Mảnh vườn phía sau cơn bão
Tôi với Bình lớn lên cùng nhau trên những triền đê nắng cháy và những mùa gặt rơm trải vàng khắp ngõ.
Ngày đó, nhà tôi đã nghèo, nhà Bình lại còn nghèo hơn. Bình mồ côi bố từ khi mới lọt lòng được mấy tháng. Tôi nhớ, cứ hễ trời đổ dông là nó lại chạy sang trú dưới mái hiên nhà tôi, tay chân co quắp đợi tạnh mưa. Tôi khi đấy là đứa trẻ sống trong kỳ vọng của cha mẹ, còn Bình dường như bơ vơ, bởi mẹ nó không lâu sau đó cũng biệt tăm đi làm ăn đâu tận trong Nam.
Có những năm tháng chúng tôi đã chia nhau từng củ sắn lùi còn dính tro lem luốc, ngủ chung trên chiếc chõng tre chật hẹp giữa mùa hè gió Lào rát rạt. Lớn lên, tôi lên thành phố, Bình cũng đi theo tôi như hình với bóng. Hai chúng tôi trên cả tình bạn đơn thuần, mà như anh em ruột thịt, bảo bọc nhau sống qua những ngày gian khó.
Nhưng cuộc đời lẳng lặng chia chúng tôi thành hai hướng. Mười năm trôi qua nhanh như một giấc ngủ trưa, Bình lầm lũi làm lụng, chắt chiu từng cơ hội để gây dựng cơ ngơi như bây giờ. Còn tôi thì mải mê chạy theo những thứ phù phiếm ngoài kia, để rồi trượt dài trong những toan tính sai lầm và cả sự lười biếng của chính mình. Tôi tự đánh mất đi gốc rễ, để sau một cơn bão dài, tôi nhận ra mình chỉ còn là một kẻ trắng tay, không bến đỗ, không nơi để về.
Chiều nay, tôi đứng đây, mang theo cái danh nghĩa tình bạn cũ kỹ ấy như một “chiếc phao cứu sinh” cuối cùng để bước vào cuộc gặp mà mình chưa bao giờ muốn có. Trời mưa lây rây nặng hạt, phủ kín những tòa cao ốc. Tôi đứng trước cửa công ty của Bình, tay cầm chiếc ô rách một góc, lòng nặng nề một nỗi xấu hổ khó gọi thành tên. Mười năm, Bình đã chắt bóp xây lên cơ ngơi này, còn tôi, tôi phá sạch đời mình như một trận bão quét qua cánh đồng vừa chín tới.
Tôi bước vào phòng làm việc của Bình, mang theo cả cái hơi lạnh của kẻ vừa đi ngoài mưa và dáng vẻ của một kẻ thất thế. Thời gian đổi thay nhưng Bình vẫn thế, vẫn là người bạn của tôi năm nào, cao dỏng và gầy gò, chỉ có điều tóc đã điểm thêm nhiều sợi bạc. Bình nhìn tôi lặng lẽ. Chắc có lẽ nhìn thân thể tiều tụy của tôi, Bình cũng dự cảm được một điều gì đó khó nói.
Bình rủ tôi về nhà chơi và nhờ chị giúp việc nấu một bữa cơm quê đúng nghĩa. Mâm cơm có cá kho tộ thơm mùi gừng già, bát nước rau muống luộc dầm sấu chua thanh và bát cơm trắng bốc hơi nghi ngút. Tôi cầm đôi đũa mà tay run rẩy. Mùi vị này không đơn thuần là thức ăn, nó là mùi của một thời tử tế mà tôi đã đánh mất từ lâu. Nó là mùi của mẹ cha, mùi của mảnh vườn phía sau nhà mỗi độ xuân về, thứ mùi mà bấy lâu nay tôi đã cố tình quên bẵng đi trong những cuộc vui say.
Tôi từng tự đắc cho rằng mình khôn ngoan, nhạy bén, cho đến khi nhận ra mình chỉ là một kẻ đánh bạc với chính cuộc đời. Những năm tháng ở phố, tôi ngã ngựa không phải vì thiếu sức, mà vì tham. Tôi ném mình vào những vụ làm ăn chụp giật, rồi lún sâu vào những ván bài đỏ đen với hy vọng đổi đời chỉ sau một đêm. Để rồi, khi nợ nần bủa vây không còn lối thoát, tôi cuống cuồng bán sạch cả mảnh vườn của cha - thứ duy nhất gắn kết tôi với tổ tiên, nguồn cội. Tôi đã tự tay chặt đứt con đường về của chính mình.
Bây giờ, tôi đứng giữa một khoảng không hun hút. Sau lưng là nợ nần, trước mặt là sự trống rỗng đến cùng cực. Cái đói thật ra chẳng đáng sợ bằng cảm giác nhục nhã khi không còn dám ngẩng mặt nhìn ai. Tôi đến tìm Bình với cái xác không hồn, bấu víu vào chút tàn dư của ân tình cũ, hy vọng cái tên “Kiên” của ngày xưa vẫn còn đủ giá trị để đổi lấy một lối thoát cuối cùng.
- Bình à, tao cần mày giúp... - Tôi nghẹn lời, miếng cơm trong miệng trở nên khô khốc, nuốt không trôi.
Bình không nhìn tôi. Nó đặt đôi đũa xuống mặt bàn, nhỏ nhẹ:
- Tao không có tiền cho mày mượn để ném vào những thứ viển vông đó nữa, Kiên ạ.
Nó im lặng rất lâu, đôi mắt nhìn đăm đắm vào những vệt mưa loang loáng trên mặt kính cửa sổ. Ngón tay nó gõ nhịp đều đặn lên mặt bàn, mỗi nhịp gõ như một sự cân nhắc kỹ lưỡng. Tôi biết, trong sự im lặng ấy Bình đang đấu tranh dữ dội. Nó chần chừ không phải vì tiếc tiền, mà vì sợ nếu lần này lại đưa tay ra quá dễ dàng, nó sẽ vô tình đẩy tôi sâu hơn vào sự ỷ lại. Nó sợ cái lòng tốt không đúng chỗ sẽ chỉ làm tôi lún sâu thêm.
Sau bữa cơm, Bình đi vào phòng trong, khi trở ra, nó đặt lên bàn một chiếc chìa khóa sắt đã hoen gỉ và nói bằng giọng trầm đục:
- Bố mày gửi tao giữ cái này. Mười năm rồi. Ông dặn, khi nào mày về với đôi bàn tay trắng, không còn nắm giữ những thứ ảo ảnh nữa, thì hãy trao lại cho mày. Mọi thứ mày cần, ông đều để lại ở căn kho phía sau nhà.

***
Tôi rời thành phố ngay trong đêm trên chiếc xe máy cũ. Con đường về làng mờ mịt, hai hàng tre bên lối vào đan cài vào nhau, như những cánh tay già nua đang che chắn cho đứa con lầm lỗi. Mảnh vườn hiện ra trong bóng tối, hoang tàn đến lạnh người. Ngôi nhà mái ngói sụp một góc, để lộ khoảng trời đêm đen ngòm qua lỗ hổng. Tôi thấy ngực mình thắt lại, một nỗi đau âm ỉ mà nhức nhối.
Tôi dắt xe vào sân, bóng tối trong vườn đặc quánh, phả ra mùi hăng nồng của cỏ dại lâu ngày không phát dọn. Sau một quãng đường dài, người tôi rã rời nhưng đôi chân vẫn vô thức bước ra phía kho cũ dưới gốc nhãn. Tiếng ổ khóa gỉ bật ra nghe khô khốc. Tôi đẩy cửa, hơi ẩm mốc từ bên trong xộc thẳng vào mũi. Bật chiếc đèn pin điện thoại, tôi thấy cái hòm gỗ đơn sơ đặt ở góc. Bên trong không có vàng bạc, cũng chẳng có hạt giống hay di vật gì to tát. Chỉ có duy nhất một phong bì thư đã cũ, đặt ngay ngắn ở giữa hòm. Bên ngoài phong bì, nét chữ của Bình xéo xéo, viết vội: “Cho Kiên”. Tôi ngồi thụt xuống nền đất lạnh, tay run run mở tờ giấy kẻ ô đã ngả màu vàng đục.
“Mảnh đất này chưa bao giờ thuộc về tao, Kiên ạ. Năm đó mày bán đất, tao đã âm thầm gom hết vốn liếng mua lại vì tao biết rồi sẽ có ngày mày cần một lối về. Mười năm qua, tao trông nom căn nhà này chỉ để đợi mày. Trước khi mất, bố mày dặn tao: “Thằng Kiên nó đang lạc đường. Nếu sau này nó về, con hãy giúp nó”. Mảnh vườn này chỉ đang đợi mồ hôi của mày thấm xuống để xanh lại thôi. Nếu mùa sau tao về mà cỏ vẫn cao quá đầu người, thì mày đã phụ lòng cha thêm lần nữa. Đất không bao giờ từ chối ai, chỉ có người bỏ đất mà đi thôi. Bình”.
Tôi đọc xong, lặng người giữa bóng tối. Hóa ra, mười năm qua, cái “vốn” quý giá nhất mà bố và Bình để lại cho tôi không phải là tiền bạc, mà là một cơ hội để làm người. Đêm ấy, tôi không khóc cho cái cảnh khốn cùng hiện tại, tôi khóc vì nhận ra mình vẫn còn một con đường để về mà bấy lâu nay cứ mải miết chạy theo những thứ phù phiếm xa xôi. Giữa bóng tối của mảnh vườn hoang, tôi thấy mình nhỏ bé và tội lỗi, nhưng cũng chính lúc ấy, tôi thấy lòng mình nhẹ đi, như một kẻ vừa tìm thấy lối thoát sau những ngày dài lạc lối trong rừng thẳm.
***
Mùa xuân năm ấy đến muộn. Tôi bắt đầu những ngày dài lầm lũi với cán cuốc bên mảnh vườn hoang. Phát sạch đám cỏ dại lút đầu người, lật từng thớ đất rắn đanh, bàn tay tôi chai sần rồi rướm máu vì cỏ sắc. Nhưng lạ thay, mỗi tối nằm xuống, tôi không còn thấy những cơn ác mộng rượt đuổi nữa. Tôi ngủ vùi, hơi thở quyện trong mùi đất ẩm và mùi lá mục đang chuyển mình.
Cuối tháng Giêng, giữa những luống đất đã được xới lật kỹ càng, những mầm xanh đầu tiên bắt đầu nhú lên. Chúng nhỏ xíu, mỏng mảnh như sợi chỉ nhưng bám chặt vào đất, run rẩy mà kiên cường trong gió sớm.
Bình xuất hiện ở cổng vào một chiều nắng nhạt. Nó không còn bóng bẩy trong bộ đồ công sở, mà xỏ đôi dép tổ ong cũ, chân lấm tấm bùn như vừa lội qua quãng đường đất ngoài đê. Nó lặng lẽ bước vào, ngồi bệt xuống bên cạnh tôi ngay mép luống, không hỏi han, cũng chẳng kể lể. Hai đứa cứ thế ngồi im lặng, nghe tiếng chim chiền chiện hót xa xăm và tiếng gió lùa qua kẽ lá nhãn khô.
Tôi nhìn bàn tay mình, đôi bàn tay đen nhẻm, móng dính đầy bùn đất và những vết chai sần thô ráp. Hóa ra, đây mới là thứ quý giá nhất mà tôi từng có. Tôi đã mất mười năm đi một vòng tròn lớn, chỉ để học lại cách chạm tay vào đất và nhận ra rằng, hạnh phúc vốn dĩ không phải là thứ có thể đi vay mượn. Mảnh vườn phía sau cơn bão đang xanh lại. Và tôi, cũng đang bắt đầu mọc rễ trên chính cuộc đời mình...