Hà Nội văn

Tìm lại mùa trăng

Mai Hoàng • {Ngày xuất bản}

Xe khách thả tôi xuống đầu thị trấn khi hoàng hôn đã khuất dần sau rặng núi.

Con đường đất dẫn vào ngõ vẫn lồi lõm như hai mươi năm trước, chỉ khác là giờ hai bên đã tráng thêm lớp bê tông nứt chân chim, cỏ gà mọc lấn ra tận giữa lối. Gió cuối tháng Bảy âm còn vương hơi nóng ban ngày, thổi từ cánh đồng sau lưng thị trấn về, mang theo mùi rơm ẩm trộn lẫn mùi bột nếp rang thoang thoảng đâu đó. Thứ mùi mà tôi những tưởng mình đã bỏ quên vĩnh viễn ở một ngăn kéo nào đó của tuổi thơ.

Tôi xách vali đi qua dãy hàng bánh Trung thu dựng tạm nơi ngã tư, đèn led nhấp nháy hắt lên những vỏ hộp mạ kim sáng lóa. Làm nghề thiết kế bao bì, tôi nhìn một cái là nhẩm ra ngay tiền in, tiền bao bì có khi ngốn hơn nửa giá trị cái bánh bên trong. Bánh thì ít, vỏ thì nhiều. Tôi nghĩ vậy rồi bước tiếp, không ngờ vài bước sau lại đụng bà Tư bán nước chè đầu ngõ, người vẫn nhớ mặt tôi dù đã bảy năm.

- Thằng Hoàng đấy à? Về thăm bố hử?

Tôi gật, chưa kịp hỏi thăm thì bà đã chép miệng, giọng chùng xuống:

- Bố mày dạo này yếu lắm. Tay run cầm bát cơm còn đổ, vậy mà cứ nằng nặc không cho ai đụng vào cái lò bánh. Từ hồi cô Hương mất, ông ấy càng lầm lì, chỉ còn mỗi cái bếp là bầu bạn. Cô chú mày gọi điện giục bán đất suốt, tao nghe mà thương. Cái nghề làm bánh thủ công này, giờ có mấy ai còn kiên nhẫn ngồi cả đêm canh lửa như ông ấy đâu.

Tôi khựng lại một nhịp trước cái tên “cô Hương” - mẹ tôi mất năm tôi học năm hai đại học, đám tang tôi có về, nhưng sau đó thì viện cớ quá bận mà thưa dần những chuyến về giỗ. Tôi cảm ơn bà Tư, bước đi mà trong lòng dấy lên một nỗi áy náy mơ hồ, như thể mình vừa bị réo tên trong một câu chuyện đã diễn ra từ lâu mà chẳng ai buồn kể cho mình nghe.

Căn nhà gỗ ba gian nằm cuối ngõ, tấm biển “An Hương Bánh Mới” treo trên cổng đã tróc sơn, mấy chữ mờ gần hết như nét mực bị nước mưa gột. Trên bàn thờ góc nhà, bát hương của mẹ nghi ngút một chân nhang mới, chắc bố vừa thắp chiều nay. Bố ngồi một mình trên chiếc ghế trúc ngoài hiên, áo may ô sờn vai, đôi bàn tay gân guốc đặt trên đùi. Không đèn, không mùi bột, không tiếng chày.

- Về rồi đấy à con? - Bố cất giọng.

- Vâng, con mới về!

Tôi đặt va ly xuống, đứng lặng một lúc, không biết mở lời thế nào sau bảy năm im lặng giữa hai bố con - cái im lặng bắt đầu từ đêm sau đám giỗ đầu của mẹ, khi tôi nói trong lúc nóng giận rằng tôi sẽ không về cái xó bếp này nữa, rằng bố cứ ở đây mà giữ lấy nghề “quê mùa” của bố, còn tôi có đời của tôi. Bố không đáp lại câu đó, chỉ quay lưng vào bếp châm lò. Từ hôm ấy, mỗi cuộc gọi của tôi về nhà đều ngắn ngủn, chỉ hỏi han qua loa rồi cúp máy.

- Sao nhà tối om vậy bố? - Tôi hỏi, dù trong bụng đã biết câu trả lời qua lời bà Tư ban chiều.

- Bố giơ bàn tay phải lên, mấy ngón co quắp run rẩy:

- Tay yếu quá, ép khuôn không nổi nữa. Bột nhồi không tới, nhân đóng không chặt, nướng lên nứt hết. Bánh hỏng, bán cho ai được?

Tôi định buột miệng nói chuyện bán nhà như cô chú vẫn giục, nhưng nhìn đôi tay ấy, tôi lại thôi. Bố châm điếu thuốc lào, đốm lửa lập lòe trong bóng tối, rồi bảo tôi vào ngủ, sáng mai tính.

11-mh2.jpg
Minh họa: Lê Trí Dũng

Đêm đó tôi trằn trọc, nhớ về một buổi tối Trung thu năm tôi học lớp bảy, hồi mẹ còn ngồi quạt lò than ở góc bếp. Bột nếp lúc ấy còn nóng hổi vừa rang xong, bố ngồi xoay thau, tay tôi vụng về ấn mạnh vào khối bột trắng khiến nó bết dính be bét.

- Con làm gì mà hùng hục thế? - Bố khẽ cười rồi hỏi tôi - Bột nếp nó như con nước đầu nguồn, mình càng ép mạnh nó càng vón cục chống lại mình. Con dùng lòng bàn tay, đẩy nhẹ ra rồi gom lại, để nó tự tin mà giãn ra theo ý mình. Làm bánh cũng như chờ trăng vậy, con ạ. Trăng không ai đẩy nó tròn nhanh hơn được, mười lăm ngày nó tự tròn, mình chỉ có việc kiên nhẫn ngồi đó mà đợi, mà giữ lửa cho đều. Nóng vội là hỏng cả mẻ.

Lúc ấy tôi mười ba tuổi, chỉ ậm ừ cho qua chuyện, thấy triết lý của bố sao mà cũ kỹ, chậm chạp, chẳng ăn nhập gì với cái thế giới tôi đang mơ tới - nơi người ta thiết kế mọi thứ bằng phần mềm, sản xuất hàng loạt trong một đêm.

Tôi lớn lên, đi học thiết kế, trở thành người vẽ bao bì cho hàng chục nhãn bánh kẹo lớn nhỏ trên phố. Cách đây hơn tháng, dự án bao bì Trung thu lớn nhất năm của tôi bị khách hàng trả lại giữa chừng. Họ bảo mẫu thiết kế “đẹp thì đẹp nhưng sao lạnh lẽo, nhìn vào không thấy vị bánh đâu, chỉ thấy tiền in thôi”. Tôi ngồi trong phòng làm việc trên tầng mười hai, nhìn xuống phố xá rực đèn, lần đầu tiên thấy nghi ngờ chính bàn tay mình và có lẽ chính vì cái nghi ngờ ấy, khi cô chú gọi điện giục về khuyên bố bán đất, tôi mới thấy chân mình muốn quay lại con ngõ này, hơn là chỉ vì chữ hiếu suông.

Sáng hôm sau ở nhà, bố đã đi chợ từ sớm. Tôi loanh quanh trong bếp cũ, chỗ nào cũng nguyên vẹn như mười năm trước: Cối đá giã bột, cái bàn gỗ dài chi chít vết dao, cái khuôn gỗ xà cừ. Trong góc bàn, một hộp sắt đựng trà đã gỉ sét nằm khuất sau bao bột. Tôi mở ra, bên trong không phải trà mà là một cuốn sổ giấy bản ố vàng, mép quăn.

Những trang đầu là công thức: Tỷ lệ nước đường, cách ngâm hoa nhài, cách xào cốm không bị khô. Nhưng xen giữa những dòng công thức khô khan ấy là những ghi chép khác, nét mực tím đậm nhạt không đều, như thể được viết vào những đêm khác nhau, bằng những tâm trạng khác nhau.

“Rằm tháng Tám 1998: Con chê bánh ngọt quá. Sang năm bớt đường, ngâm thêm hoa nhài cho dịu”.

“Rằm tháng Tám 2005: Hoàng đi thi về, mặt ủ rũ buồn sầu. Mình làm riêng cho con một chiếc nhân mứt quất hạt điều, vị chua cho đỡ gắt cổ. Nó ăn hết một lèo, chừng như thỏa mãn lắm”.

“Rằm tháng Tám 2010: Hoàng đòi lên Hà Nội học vẽ, bảo nghề này quê mùa. Mình buồn con nhưng không trách, tuổi trẻ đứa nào chẳng muốn bay xa”.

“Giỗ đầu bà Hương, 2018: Hoàng nói những lời nặng quá, chắc là do đau lòng vì mất mẹ. Mình không trách, chỉ tiếc chưa kịp giải thích lại cho con hiểu. Từ hôm đó con ít gọi hẳn”.

“Rằm tháng Tám 2018: Con cũng không về. Mình làm bánh xong cúng tổ tiên rồi để đấy, ba ngày sau cứng lại, như lòng người xa quê”.

“Mình muốn làm cho con chiếc bánh dẻo cốm hoa nhài cuối cùng mà tay không giữ nổi khuôn nữa. Chắc con sắp về giục bán nhà”.

Tôi ngồi thụp xuống nền bếp, cuốn sổ mở trên đùi, nước mắt rơi xuống dòng chữ tím đã khô từ hai mươi năm trước. Câu “chắc con do đau lòng vì mất mẹ” khiến tôi nhói lên - bố đã tự tìm cớ tha thứ cho tôi trước cả khi tôi biết mở miệng xin lỗi.

Đúng lúc đó, bố về, thấy tôi ngồi giữa bếp với cuốn sổ mở trên tay. Ông đứng sững ở cửa một lúc lâu, rồi không nói gì, quay ra sân, ngồi xuống bậc thềm quay lưng vào nhà. Bữa cơm trưa hôm đó, hai bố con ăn trong im lặng, ông chỉ và cơm, thỉnh thoảng liếc tôi một cái rồi lại cúi xuống. Tôi cũng không biết mở lời ra sao, chỉ lặng lẽ gắp thức ăn bỏ vào bát ông.

Chiều hôm ấy, đang lúi húi lau lại cái khuôn gỗ, tôi nghe tiếng trẻ con lanh lảnh ngoài cổng. Một bé gái chừng tám tuổi chạy vào, sau lưng là mẹ nó xách làn nhựa.

- Ông ơi, mẹ con hỏi Rằm này ông có làm bánh dẻo cốm không ạ? Năm nào con cũng đợi ăn bánh ông làm, ngoài chợ bán không có vị hoa nhài như của ông đâu!

Người mẹ cười, quay sang tôi:

- Chú là con bác Thành hả? Cả xóm này quen ăn bánh bác từ bé, giờ trẻ con vẫn nhắc. Bác yếu rồi mà năm nào cũng ráng làm một mẻ nhỏ, bảo không làm thì tụi nhỏ buồn.

Tôi đứng lặng nhìn theo hai mẹ con ra khỏi cổng. Bố đứng sau lưng tôi tự lúc nào, nghe hết câu chuyện, khẽ thở dài một tiếng không rõ buồn hay nhẹ lòng.

Tối đó, điện thoại tôi reo, là cô chú gọi hỏi đã “nói chuyện” với bố chưa. Tôi bước ra sân, nói ngắn gọn:

- Cháu không bán nhà đâu cô chú ạ. Để cháu ở lại ít bữa lo cho bố.

Đầu dây bên kia im lặng một chút rồi cúp máy, không cố nài thêm.

Tôi quay vào, thấy bố đã tự tay bắc nồi nước đường lên bếp than từ lúc nào. Ông ngồi xuống chiếc ghế đẩu, đẩy cái khuôn gỗ xà cừ về phía tôi, không nói gì. Tôi hiểu ý, xắn tay áo ngồi xuống bên cạnh.

Đêm ấy tiệm bánh “An Hương Bánh Mới” sáng đèn trở lại. Tôi nhồi bột theo đúng lời bố ngày xưa, đẩy nhẹ bằng lòng bàn tay, không ép bằng ngón tay và lạ thay, khối bột trắng dần giãn ra mềm mại dưới tay tôi, như thể nó đã đợi sẵn cách được chạm vào từ rất lâu. Khi chiếc bánh đầu tiên tuột ra khỏi khuôn, tròn trịa và thơm mùi hoa nhài, bố đưa ngón tay run run chạm vào mặt bánh, không nói gì, chỉ khẽ gật đầu.

Tôi lấy điện thoại ra, xoay vài góc, chụp lại chiếc bánh còn nóng hổi dưới ánh đèn dầu vàng, rồi cất máy vào túi mà không nói với bố mình định làm gì.

Ngoài hiên, trăng Rằm đã nhô lên khỏi rặng tre, tròn và sáng như đã hẹn từ hai mươi ngày trước. Tôi giở cuốn sổ phác thảo vẫn mang theo nghề nghiệp, vẽ lại cái khuôn gỗ xà cừ, những đường vân đã mòn, rồi khép lại, đặt nó cạnh cuốn sổ giấy bản cũ của bố trên bàn gỗ - hai lớp mực tím và mực bút bi chồng lên nhau như hai mùa trăng vừa nối liền...

Mai Hoàng