Hà Nội văn

Phía hừng đông

Truyện ngắn của Đặng Tuệ Lâm • {Ngày xuất bản}

Tiếng cơ trưởng điều khiển chuyến bay thương mại mang số hiệu TK165 của hãng hàng không Turkish Airlines cất lên đều đều thông báo máy bay chuẩn bị hạ cánh. Thiếu tá Trần Vĩ cùng đội sử dụng chó nghiệp vụ Biên phòng vỗ về 6 đồng đội đặc biệt.

Những chú chó được người dân phong cho danh hiệu “soái ca Ba Vì” đã đeo rọ mõm, mặc áo chuyên dụng để bớt bồn chồn khi áp suất thay đổi đột ngột. Máy bay trượt trên đường băng rồi từ từ dừng hẳn, tiếng rít khẽ của mấy chú chó cũng nhỏ dần rồi im bặt. Trần Vĩ khẽ nhắc anh em trong đội kiểm tra kỹ lưỡng quân tư trang và các công cụ cứu hộ mang theo.

minh-hoa-tn.jpg

Những ngày này, thời tiết ngoài trời tại Hatay là 5oC, ban đêm thường âm 2 đến 5oC và có tuyết nên 6 chú chó nghiệp vụ được đội “ủ ấm” bằng áo và cả... tất chân. Sớm hôm sau, tất cả cùng “vào trận” hỗ trợ người dân khắc phục thảm họa động đất xảy ra trước đó khiến nhiều người chết và bị thương. Ra hiện trường, anh em tháo bỏ áo ấm và tất cho 6 chú để không bị mắc kẹt trong bãi đất đá hay sắt thép. Các tổ tiến hành trinh sát. Khi phát hiện mục tiêu, lực lượng sẽ đưa ra khỏi khu vực sập đổ. Trường hợp có dấu hiệu cần ứng cứu, tổ trinh sát lập tức báo cáo để chỉ huy trưởng điều động lực lượng công binh tới hiện trường, triển khai các biện pháp nghiệp vụ và thực hiện công tác cứu hộ.

Sau ba ngày lăn lộn trên đống đổ nát khổng lồ, ai cũng thấm mệt. Song trong lòng rất vui vì đã xác định được 7 vị trí có nguồn hơi, trong đó có 2 điểm có dấu hiệu của sự sống. Các lực lượng bạn dùng máy móc đào bới, cứu sống 1 em bé và đưa được 16 thi thể nạn nhân ra khỏi đống đổ nát. Chiều ngày thứ 3, đội được nghỉ tranh thủ nửa ngày để xử lý vết thương cho Pocka và Javo bị mảnh thủy tinh cứa chảy máu chân, thế là hai đồng chí quân khuyển tạm “loại biên” hai ngày cho liền da.

Xâm xẩm trời, anh em vừa cơm nước xong thì có khách. Lạnh cắt da thịt, những bông tuyết sớm bắt đầu bay. Bước vào lán là ông Celal Col, Đội phòng cháy chữa cháy Konya. Phía sau ông là một cán bộ cứu hộ lạ mặt, mãi đến khi anh ta đứng dưới ánh đèn, mới nhìn rõ lá cờ Algeria trên vai áo đồng phục. Mỗi người xách trên tay hai can nước đầy - thứ đang trở nên rất quý hiếm ở đây. Ông Celal đặt nước xuống, bước tới bắt tay Trần Vĩ cùng các thành viên trong đội, giọng xúc động:

- Đây là nước của bà con khu phố bên cạnh gửi đến bộ đội Việt Nam. Chúng tôi không biết Việt Nam cách xa bao nhiêu nghìn ki lô mét, nhưng chúng tôi rất biết ơn nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và đặc biệt là đội cứu hộ bằng chó nghiệp vụ đã sang đây giúp đỡ chúng tôi.

Trần Vĩ nhận hai can nước, anh quay lại trao đổi với một thành viên của đội. Sau đó cúi xuống xách hai can nước bước tới, để lại dưới chân Celal:

- Chúng tôi rất xúc động trước tình cảm của nhân dân Hatay. Hai can nước này, chúng tôi xin nhận. Còn hai can, phiền đồng chí Celal mang đến gửi lại cho bà con. Lúc này mọi thứ còn ngổn ngang, bà con cũng cần nước sạch để sử dụng ở nơi tạm lánh. Chúng tôi cũng có mang theo một ít lương khô của quân đội Việt Nam, xin được tặng các đồng chí trong Đội phòng cháy chữa cháy Konya.

Thấy Celal tần ngần, Trần Vĩ bước tới, dang tay ôm lấy hai vai người đồng nghiệp tận tụy. Những ngày qua, Celal luôn theo sát để có thể kịp thời hỗ trợ Đội sử dụng chó nghiệp vụ nên anh thường xuyên lui tới khu lán trại của đội Việt Nam, có hôm còn ở lại cùng ăn tối.

- Celal đừng suy nghĩ nhiều. Tấm lòng của nhân dân chúng tôi rất hiểu. Mỗi lần đi làm nhiệm vụ gặp người dân ngang đường, thấy bà con đều đứng nghiêm, tay đặt lên ngực trái, chúng tôi rất xúc động. Đó là món quà quý nhất rồi.

Celal gật đầu tỏ vẻ hiểu ý. Rồi anh quay sang giới thiệu người cán bộ Algeria đi cùng:

- Xin giới thiệu với các đồng chí, đây là Seman Hoffman, chỉ huy đội công binh do quân đội Algeria cử đến hỗ trợ chúng tôi. Họ làm nhiệm vụ ở phía Tây thành phố nên hai bên chưa có dịp gặp nhau. Được biết phía Đông có bộ đội Việt Nam đang làm nhiệm vụ, anh ấy đề nghị được đến đây gặp các bạn.

Seman là một người đàn ông vạm vỡ, gương mặt chữ điền và nụ cười hồ hởi:

- Xin chào các bạn Việt Nam. Các bạn đến từ Hà Nội có phải không?

- Phải, cả đội chúng tôi đều đang sinh sống, công tác tại Ba Vì, Hà Nội. Không biết ông Seman có điều gì cần trao đổi?

Trần Vĩ trả lời.

Dường như không quan tâm đến câu hỏi của Trần Vĩ, Seman đưa hai tay lên trời, bật thốt lên:

- Ba Vì, Hà Nội...! Ô, hồi nhỏ tôi luôn tự hỏi cái xứ đó nằm đâu mà ngày nào ông nội tôi cũng nhắc tới. Các bạn biết không, ngoài cái tên chính thức Seman Hoffman, tôi còn có một cái tên khác do ông nội đặt là Trần Sĩ Mạnh. Còn ông tôi - Matoub Hoffman là Trần Mã Tùng. Đó là cái tên của ông được các bạn Việt Nam ở nông trường Việt Phi đặt cho. Ông thường cho chúng tôi xem bức ảnh đen trắng, chụp những người lính Bắc Phi trong quân phục Việt Nam may bằng vải ka-ki nâu, đầu đội mũ làm bằng bìa carton sơn xanh, đứng trang nghiêm trước Quốc kỳ Việt Nam và bảo “Ông là người Việt Nam mới”. Sau này lớn lên, gia nhập quân đội, tôi đã nhìn thấy Việt Nam, thấy Hà Nội trên bản đồ. Có lẽ tôi sẽ sớm đến đó, cùng với “Người Việt Nam mới” của tôi. Nên hôm nay, tôi đến đây là muốn nhờ các bạn hỏi thông tin về một người anh kết nghĩa của ông nội tôi năm xưa từng ở Ba Vì.

Seman cười rạng rỡ và cứ thế ôm hôn các cán bộ đội cứu hộ Biên phòng như thể vừa gặp lại những người thân sau bao năm dài xa cách. Seman vẫn hào hứng kể ào ào, tiếng Anh lẫn tiếng Pháp khiến những cán bộ người Việt Nam câu hiểu câu không. May có người cán bộ phiên dịch nghe tiếng chạy qua, Seman vội ra hiệu nhờ anh ta phiên dịch. Rồi anh nắm chặt bàn tay Trần Vĩ, kể rằng mỗi sớm mai, ông nội mình sẽ thường ngồi dưới tán cây bách và thổi một khúc nhạc vi vu bằng cây sáo đã cũ, lỗ sáo mòn vẹt dấu tay ông. Trên thân sáo có khắc dòng chữ “Hà Nội - Ba Vì, Trần Đình - Trần Mã Tùng mãi nhớ”. Rồi ông cứ thế ngồi lặng một hồi lâu, mắt nhìn về phía hừng đông như tưởng nhớ điều gì tha thiết lắm.

Cây sáo ấy do một người bạn chiến đấu tên là Trần Đình tặng ông vào cái ngày cả hai theo đoàn quân về tiếp quản Hà Nội. Còn cây bách xanh tỏa bóng chở che cho gia đình người cựu chiến binh Bắc Phi ở ngôi làng nhỏ phía Bắc Algeria ấy là mầm cây đặc hữu của vùng núi Tản, ông mang theo từ nông trường khi rời Việt Nam. Đến quê hương, ông trồng mầm cây ấy bên cây bách Sahara, để luôn nhắc nhở mình cùng con cháu, rằng gia đình Hoffman có hai quê hương.

Trần Vĩ cùng đội cứu hộ sử dụng chó nghiệp vụ cũng như vui lây niềm vui của người đồng nghiệp dễ mến. Qua nhiều lần thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại các quốc gia xảy ra thiên tai, thảm họa, là mỗi lần các anh có thêm những người bạn mới. Song, cuộc hạnh ngộ hôm nay thật kỳ lạ bởi vùng đất quê hương của họ, nơi đơn vị đang đứng chân lại có những câu chuyện lịch sử vừa dung dị đời thường, vừa đáng tự hào đến thế.

Seman nói tiếp: "Ông tôi kể rằng, sau khi theo quân viễn chinh Pháp sang Việt Nam, ông được đưa về đồn trú ở đường 5. Một thời gian, khi thấy những trận càn vào làng mạc, ông đau xót nhận ra rằng mình đang làm điều sai trái. Vậy là với sự tiếp sức của người bạn cùng đồn, ông thả tự do cho một chiến sĩ cách mạng bị cùm chân trong nhà giam. Ngay đêm ấy, ông theo lời người ấy trốn lên vùng kháng chiến, xin được đầu hàng để chiến đấu cho Việt Minh, tham gia chiến dịch Tây Bắc, rồi chiến dịch Điện Biên Phủ".

Một tuần sau khi cùng đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, những người lính Bắc Phi từ các đơn vị được tập hợp và đưa đến Ba Vì để xây dựng nông trường. Cùng đi với ông có một số chiến sĩ người Hà Nội được phân công nhiệm vụ quản lý nông trường. Thấm thoắt đôi năm, mến cảnh, yêu người, ông muốn xin ở lại Việt Nam, song chính người bạn Trần Đình đã khuyên rằng: “Chúng tôi đã giải phóng đất nước thành công. Bạn cũng đã cùng chiến đấu như một người lính thực thụ vì lý tưởng, vì chính nghĩa và vì đất nước Việt Nam. Bạn cũng có Tổ quốc của mình, hãy trở về làm nghĩa vụ cho đất nước của các bạn”.

Vậy là ông nội tôi trở về nước và tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng Algeria, chiến đấu chống thực dân Pháp, trở thành một Đại tá lục quân. Ông tôi luôn tự hào vì được là một chiến sĩ Điện Biên. Và luôn nhớ rằng, nhờ lời khuyên của người bạn ấy, ông đã góp phần làm nên một “Điện Biên Phủ” tại quê hương, nơi ông đã buộc dải khăn lữ khách trên cổng nhà trước khi lên đường làm lính đánh thuê cho quân Pháp.

Đang cuốn theo câu chuyện của Seman, Trần Vĩ bỗng giật mình liên tưởng đến ông nội mình, một chiến sĩ quân báo cũng mang tên Trần Đình, từng có thời gian làm nhiệm vụ trị an tại nông trường Việt - Phi rồi ở lại đây thành gia, lập thất. Anh ra hiệu cho Seman dừng lại, hỏi:

- Seman có chắc tên người bạn Việt Nam của ông nội Seman là Trần Đình không?

Seman gật đầu, rồi ngồi xổm xuống đất, lấy mẩu gạch viết lên nền:

- Nhớ chứ. Ông nội dạy chúng tôi tập viết dòng chữ khắc trên cây sáo suốt mà - anh đánh vần theo tay - Đây nhé... Tr...ầ...n Đ...ình. Viết như này... Ông nội tôi bảo, đó là ông nội thứ hai của tôi, sống ở phía hừng đông, phía Việt Nam.

Trần Vĩ thốt lên, giọng lạc đi:

- Đúng rồi. Đó là tên ông nội tôi.

Seman không hiểu lời Trần Vĩ nói, ngơ ngác nhìn biểu cảm của anh rồi nhìn sang phiên dịch. Người phiên dịch cũng ngỡ ngàng trước tình huống bất ngờ ấy, lựa lời mãi rồi mới truyền đạt lại cho Seman:

- Ông ấy nói, ông nội của ông ấy cũng tên là Trần Đình, cũng từng làm cán bộ ở nông trường Việt - Phi.

- Ôi... Sao có thể... Seman cũng bất ngờ không kém, liên tục thốt lên đầy vui sướng.

Trần Vĩ vội nhìn đồng hồ, đã 6h tối. Lúc này ở Việt Nam gần 10h, anh đoán chắc ông nội đang nghe bản tin cuối của Đài Tiếng nói Việt Nam như thường lệ. Anh mở điện thoại, bật kết nối quốc tế rồi bấm gọi. Chuông đổ ba hồi dài, đầu dây bên kia, tiếng một cụ già sang sảng:

- Đích tôn của ông sao lại gọi về giờ này? Cháu và đồng đội ở bên ấy vẫn bình an, mạnh khỏe cả chứ.

- Dạ, cháu khỏe lắm, đích tôn của chiến sĩ Điện Biên thì phải khỏe chứ ạ?

- Cha bố anh, chỉ được cái nịnh khéo. Nửa đêm nửa hôm gọi điện, không để cho thân già này ngủ à? - Ông cụ mắng yêu.

- Ông ơi, ông có nhớ người lính Bắc Phi nào tên là Trần Mã Tùng không ông? - Trần Vĩ hỏi.

Đầu dây bên kia như chững lại vài tích tắc, rồi giọng ông cụ lại vang lên:

- Nhớ, ông ấy người Algeria, hơn ông ba tuổi, làm đội trưởng đội lâm nghiệp, trồng cây khéo lắm. Ngày trước ông vẫn cùng ông ấy đi tuần rừng, tên ấy cũng là do ông đặt, lấy họ Trần của nhà mình. Chả biết về nước sau này cuộc sống thế nào.

Trần Vĩ reo lên:

- Ông ơi, ông Trần Mã Tùng vẫn còn sống, cháu nội ông ấy cũng tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ, hiện đang đứng trước mặt cháu đây ạ. Ông bật camera điện thoại lên ông nhé.

- Thật ư, kỳ ngộ, thật kỳ ngộ... cụ ông lẩm bẩm.

Trần Vĩ mở kết nối FaceTime, hướng ống kính về phía Seman để hai người có thể nhìn thấy nhau. Nhờ sự hỗ trợ của phiên dịch viên, Seman hiểu được cuộc nói chuyện của hai ông cháu, lúc này cũng bồn chồn nhìn vào ống kính. Phía bên kia, gương mặt một ông lão quắc thước hiện ra, mái tóc bạc trắng, nhưng ánh mắt còn tinh anh. Anh bối rối một lúc, rồi chỉ tay vào ngực mình, bất ngờ khóc và bật lên một câu tiếng Việt mà có lẽ đã được dạy từ khi còn bé:

- Ông nội... Trần Đình.... Tôi là Trần Sĩ Mạnh....

- Giỏi lắm, Trần Mã Tùng, Trần Sĩ Mạnh, đúng người họ Trần của làng Phúc Tân ta rồi - tiếng ông lão nghẹn ngào qua loa điện thoại, miệng người già cười mà như mếu.

- Vâng, ông nội Trần Đình. Ở phía hừng đông, phía Việt Nam - Seman vẫn ngọng nghịu tiếng Việt, quay sang Trần Vĩ -

Anh trai.

Trần Vĩ khựng lại, rồi anh cũng vươn tới, ôm người đồng nghiệp to lớn đang giàn giụa nước mắt:

- Em trai. Lớn rồi không được khóc. Hoàn thành nhiệm vụ ở nơi đây, anh em ta sẽ đưa hai ông về Hà Nội, đến thăm làng Phúc Tân, sẽ cùng lên Ba Vì thăm lại nông trường.

Cứ thế, hai người lính của hai đất nước nắm chặt tay nhau. Hatay sau thảm họa không có điện, bóng tối làm nhòa đi những đống đổ nát. Và bông tuyết bay thật dày, hàn thử biểu bắt đầu hạ thấp. Nhưng trong lán, hơi ấm tình người vẫn đọng lại thật sâu.

Truyện ngắn của Đặng Tuệ Lâm