Thương Hàng Buồm mùa thu ngả gió...
“Những câu thơ nhặt trên phố cũ” là đứa con tinh thần mới nhất của nhà thơ Nguyễn Thanh Vân. Tập thơ gồm gần 70 bài thơ mang dấu ấn cá nhân và thời cuộc của một người tuy sống lâu năm trên đất Thăng Long, nhưng vẫn đau đáu nhớ về những kỷ niệm xưa với tình cảm chân thành nhất, ấm áp nhất.
Đó là nỗi nhớ đất quê và mẹ day dứt khôn nguôi với bao nhiêu vất vả, gian nan: “Đất nứt nẻ bao vết chân chim/ Đến hằn lên khuôn mặt mẹ.../ Nỗi nhọc nhằn theo tháng năm đọng lại/ Trắng sau lưng vạt muối mồ hôi.../ Ôi hạt muối mồ hôi mặn chát bao đời” (“Muối mồ hôi”).
Đó là nỗi nhớ em và thành Đồng Hới: “Em đi bỏ lại dấu yêu/ Cho thành Đồng Hới phong rêu tháng ngày” (“Người thợ ảnh thành Đồng Hới”). Hai câu thơ buồn mà đẹp ở cái cách lấy tình riêng gửi vào cảnh phố phường.

Trong nỗi nhớ quê hương có nỗi nhớ tháng Ba, tháng Tám. Hai câu thơ “Hoa xoan nở đắng tháng Ba/ Mo cau tháng Tám rụng ra thằng Bờm” (“Ngõ quê”) có cái duyên rất lạ. “Hoa xoan nở đắng tháng Ba” là cái đắng vốn thuộc vị giác, bỗng thấm vào sắc hoa và thời gian.
Tháng Ba không chỉ có hoa xoan tím rụng đầy ngõ quê, mà còn có một nỗi niềm mơ hồ, man mác, như thể cả mùa hoa cũng mang vị đắng của đời người.
“Mo cau tháng Tám rụng ra thằng Bờm” lại bất ngờ chuyển sang một thế giới khác. Chữ “rụng ra” thật đắt: Bờm như một sản phẩm tự nhiên của làng quê, được sinh ra từ mo cau, từ cây cỏ, từ cái nền văn hóa dân gian đã thấm sâu vào đời sống.
Trong nỗi nhớ mẹ có nỗi nhớ ngày Vu Lan báo hiếu mẹ. Hai câu thơ “Mưa ngâu mờ cánh đồng mây/ Vu Lan nhớ mẹ hương bay về trời” (“Vu Lan nhớ mẹ”) đẹp ở sự gặp gỡ giữa nỗi nhớ mẹ và một niềm tin tâm linh. Câu đầu mở ra một không gian bảng lảng, xa vắng, thấm đẫm sắc màu huyền thoại.
Đến câu sau: “Vu Lan nhớ mẹ hương bay về trời”, nỗi nhớ được nâng thành một nghi thức thiêng liêng. Hương vừa là hương trầm dâng mẹ, vừa như tình yêu và lòng hiếu thảo hóa thành làn khói nối cõi người với cõi mẹ.
Đặc biệt, chữ “bay” khiến câu thơ nhẹ đi mà nỗi nhớ lại sâu hơn: Hương có thể tan vào trời rộng, nhưng tình mẹ thì không mất. Cái hay nằm ở sự chuyển hóa: Từ mưa ngâu mờ ảo đến làn hương mong manh, từ cảnh đất trời đến cõi tâm linh. Hai câu thơ ít lời mà gợi được một nỗi nhớ không bờ bến, nhớ mẹ mà như thấy mẹ đang trở về trong hương khói.
Tập thơ có cả một vệt thơ viết về Hà Nội và con người Hà Nội: “Phố Hàng Khay”, “Cúc họa mi”, “Mùa thu Tây Hồ”, “Phố cổ như vừa cũ mới”, “Thu nhớ”, “Mưa Hà Nội”, “Trả lại em phố Phái của ngày xanh”...
Trong đó, ấn tượng hơn cả phải kể đến “Những câu thơ nhặt trên phố cũ”: “Phố Hàng Ngang, em đi hàng dọc/ Muốn khoác vai nhau đến bao giờ?/ Thương Hàng Buồm mùa thu ngả gió/ Mở khăn san em thả một cánh buồm/ Nghe tên phố thấy lòng mình chua ngọt/ Em đến Hàng Đường mua tuổi ô mai/ Ta đứng chờ mười năm có lẻ/ Đâu hay nơi này là ngõ Tạm Thương”.
Bài thơ có cái duyên rất riêng: Mượn tên phố cổ Hà Nội để kể một câu chuyện tình, nhưng càng đi qua những con phố mang tên gọi ngọt ngào, người đọc càng nhận ra vị đắng của một cuộc chờ đợi dài lâu.
Cái tài của bài thơ là biến địa danh thành tâm trạng. Hàng Ngang gợi một bước đi ngang qua nhau, Hàng Buồm mở ra cánh buồm của khát vọng, Hàng Đường chở vị ngọt của tuổi ô mai. Những cái tên tưởng chỉ để định vị không gian bỗng trở thành ngôn ngữ của tình yêu, vừa tài hoa, vừa hóm hỉnh.
Hai câu “Muốn khoác vai nhau, biết đến bao giờ?” và “Mở khăn san em thả một cánh buồm” có nét lãng mạn, bay bổng. Đáng nhớ có hình ảnh cánh buồm được thả từ chiếc khăn san khiến tình yêu như có thể vượt khỏi phố phường chật hẹp để tìm đến một chân trời khác.
Nhưng cái hay nhất nằm ở hai câu kết: “Ta đứng chờ mười năm có lẻ/ Đâu hay nơi này chỉ là ngõ Tạm Thương”. Mười năm tưởng đủ để đi đến một bến bờ, hóa ra chỉ đứng trước một ngõ nhỏ mang tên Tạm Thương. Một bài thơ có cái kết thông minh mà không lạnh lẽo: Tên phố đã nói hộ số phận tình yêu.