Khu tập thể: “Chứng nhân” của những năm tháng Ðổi mới
Một ngày mưa và ngoài trời mù sương, tôi ngồi lẩn mẩn giở cuốn album cũ. Một tấm ảnh rơi ra. Tôi cầm lên xem, một bức ảnh gia đình chụp từ năm 1986. Bố mẹ chưa già còn tôi mới chỉ là thanh niên.
Thế mà nay các cụ đã đi xa còn tôi đã thành ông nội. Lòng tôi bỗng thấy chùng lại, thời gian trôi qua dài quá, bốn mươi năm, gần một đời người rồi còn gì...

Tôi sống cả đời trong một khu tập thể, một hình thái nhà ở đặc trưng của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hơn mười năm sau ngày chiến tranh kết thúc, khu tập thể Kim Liên nơi tôi ở đã trải qua một lần thay đổi lớp cư dân. Những gia đình cán bộ miền Nam tập kết lần lượt trở về quê hương sau năm 1975, các căn hộ được trả lại cơ quan rồi phân cho những người đến sau. Mười năm hậu chiến cũng là mười năm đất nước bộn bề khó khăn, cái tên “bo bo” trong danh mục lương thực vẫn còn in đậm trong ký ức nhiều người. Nhưng chính trong nhọc nhằn ấy, người dân khu tập thể đã nương tựa vào nhau, cùng vượt qua bằng thứ tình cảm bền chặt của một đời sống văn hóa cộng đồng.
Năm 1986, Đại hội Đảng VI mở ra thời kỳ Đổi mới. Một “làn gió mới” thổi qua từ nông nghiệp, công nghiệp, khoa học kỹ thuật cho đến văn hóa, văn nghệ. Nhưng những công chức trẻ như tôi lại có một nỗi buồn khôn tả khi có những chính sách như bù giá vào lương, hay bù giá nhà vào lương. Cái sự bù ấy mờ dần rồi mất hẳn đã khóa chặt hy vọng của chúng tôi về việc sau nhiều năm công tác sẽ được phân nhà. Vậy là đành phải chấp nhận gia đình nhỏ của mình phải ở cùng bố mẹ trong căn hộ chỉ hơn hai chục mét vuông không biết tới khi nào.
Những năm ngay sau Đổi mới, may mắn thay, xã hội lại xuất hiện một trào lưu mới. Phong trào xuất khẩu lao động nở rộ. Cơ quan, nhà máy nào cũng có chỉ tiêu đưa con em, cán bộ, công nhân sang làm việc tại các nước châu Âu; bộ đội xuất ngũ cũng trở thành một lực lượng đáng kể. Ở những vùng đất mang tên ngoại thành nhưng nằm sát phố phường, đất đai được bán, được chia, khiến phong trào mua đất, xây nhà sôi động hẳn lên. Nhiều người năng động tìm mua đất rìa thành phố nên những người ở lại trong khu tập thể như chúng tôi cũng có điều kiện “giãn dân”.
Qua nhiều khó khăn, đất nước rồi cũng dần phát triển. Sau năm 1990, sau Nghị định 176-HĐBT ra đời khiến không ít công nhân và cán bộ mất việc, nhưng đồng thời cũng mở ra những con đường mưu sinh mới. Xây dựng, sản xuất nhỏ, buôn bán các mặt hàng tiêu dùng, đặc biệt là điện máy, nở rộ như nấm sau mưa. Nhất là sau ngày Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7-1995, việc nhập hàng hóa từ nước ngoài về thuận lợi hơn trước rất nhiều. Người dân đã gần quên đi một thời tem phiếu. Quần áo nhiều kiểu với nhiều loại vải, người ta không còn mặc quần áo vá nữa. Đồ dùng và tiện nghi trong nhà dễ mua hơn, không còn cảnh vay mượn, tích cóp. Hầu như nhà nào cũng có tivi, tủ lạnh. Năm 1995, nhà tôi cũng mua được một chiếc tivi màu hiệu JVC 14 inch và trẻ con nhà tôi không còn phải sang nhà hàng xóm xem nhờ phim nữa.
Năm 1986, cả cơ quan tôi chỉ có một người sở hữu chiếc xe máy Honda “secondhand” mua ở Intershop Giảng Võ, nhờ có người nhà được đi làm chuyên gia ở Algeria. Còn lại, từ nhân viên đến sếp tất cả đều đi xe đạp, đủ mọi kiểu loại. Vậy mà chỉ hơn chục năm bước vào thời kỳ Đổi mới, mảnh sân nhỏ của cơ quan đã không còn đủ chỗ để xe máy.
Cũng vì điều kiện kinh tế, nhiều gia đình trong khu tập thể của tôi không thể mua đất, xây nhà ở nơi khác nên cảnh hai, thậm chí ba thế hệ chung sống trong một căn hộ là chuyện bình thường. Bởi vậy, từ những năm 1990, trào lưu cơi nới bắt đầu xuất hiện. Các căn hộ tầng một mở rộng ra sân, còn nhà trên gác thì “nhảy dù” xuống những khoảng đất trống xung quanh. Sân chơi vì thế dần thu hẹp, có dãy nhà mất hẳn sân chơi. Nhu cầu về diện tích ở vẫn ngày một tăng. Ban đầu, các căn hộ tầng trên làm lồng sắt vừa chống trộm, vừa có thêm chỗ phơi quần áo, để đồ. Sau thì tiến tới làm “chuồng cọp” đua ra 2 - 3 mét để có thêm căn phòng nhỏ cho sinh hoạt gia đình. Vẻ đẹp ban đầu của khu tập thể dần mất đi. May mà nếp sống cộng đồng còn giữ được, nên các nhà vẫn bảo nhau giữ gìn vệ sinh chung và giúp nhau lúc cần thiết.
Những thôn làng ven thị Hà Nội đã dần đô thị hóa. Ruộng vườn, ao chuôm mất dần, thay vào đó là những con đường, con ngõ bê tông hóa và những dãy nhà cao tầng. Những con đường lát gạch có hàng cây xoan, cây duối bên đường không còn nữa. Chỉ những nhà nào còn giữ được mảnh vườn nhỏ mới nhìn thấy đất, trẻ con mới biết đến con giun, con dế như thế nào.
Trong khu tập thể của tôi cũng vậy. Toàn bộ phần sân còn lại dù to nhỏ cũng quây quanh, lát gạch. Đường đi lối lại toàn bê tông. Hà Nội mở rộng, phát triển thì thêm tên phố, tên đường. Có những đoạn đường nhỏ chỉ vừa hai xe con tránh nhau dài chỉ vài trăm mét cũng đặt tên phố. Ngày trước, lứa bạn bè chúng tôi chỉ đường tới nhà cho nhau còn thuộc vanh vách tên phố, tên đường. Bây giờ thì chịu, lắm khi nhà cách nhau chỉ vài cây số đường chim bay đã phải nhờ đến google map. Những năm tháng đi làm bằng đạp xe không thấy mỏi, không có khái niệm tắc đường đã lùi xa vào dĩ vãng.
Người sống ở Hà Nội bây giờ muốn xem lại cảnh vật đường phố ngày xưa phải chờ đến sáng mùng Một Tết. Khoác chiếc áo mỏng, bước ra đường, đi một đoạn dưới trời mưa bay bay, trên đường lưa thưa bóng người qua lại, mới chợt nhận ra đấy là cảnh đường phố Hà Nội mấy chục năm xưa.
Nhưng nhớ là nhớ thế thôi và dù có chút tiếc nuối thì thời gian cũng không thể quay ngược lại được. Xã hội ngày càng tiến lên, có nhiều thứ phải thay đổi, thậm chí là hy sinh. Ví như mở rộng những con đường thì phải bỏ đi những hàng cây xanh nhiều chục năm tuổi. Nhiều gia đình phải nhận đền bù để di chuyển tới những khu chung cư hay nơi xa khác, dành chỗ làm đường.
Không thể phủ nhận là mặt bằng cuộc sống hôm nay đã thay đổi rất nhiều, tốt lên hơn rất nhiều so với bốn mươi năm trước. Cuộc sống của gia đình tôi và hàng xóm xung quanh cũng vậy. Không còn cảnh muốn làm thịt con gà phải giấu hàng xóm, dùng kéo cắt cho khỏi tiếng động, xương và lông gà phải đem bỏ thùng rác ở nơi thật xa. Ngày Tết bây giờ chỉ là dịp để gia đình xum họp chứ không phải để ăn vì quanh năm đã no đủ.
Công nghệ phát triển, bây giờ người dân được tiếp cận thông tin và nhiều hình thức giải trí. Hầu như ai cũng có điện thoại thông minh, giao tiếp giữa người thân, bạn bè và công việc không còn khoảng cách và thời gian. Bưu điện chỉ còn làm công việc chuyển bưu phẩm là chính, thùng thư gần như là thứ bỏ không.
Bốn mươi năm từ Đổi mới đến Kỷ nguyên mới là 8 kỳ Đại hội của Đảng. Đại hội thứ XIV của Đảng mới đây đã thành công tốt đẹp, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Càng vui hơn khi chúng ta đón nhận nhiều tín hiệu vui từ những quyết sách mới của Đảng và Nhà nước - những quyết sách vì dân, lấy người dân làm trung tâm.
Kỷ nguyên mới đang mở ra và mang đến những đổi thay tốt đẹp cho đất nước và cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc cho mọi nhà!