Những ký ức chưa xa
Ký ức Tết thời bao cấp giống như những lát cắt mỏng của thời gian, tưởng đã úa màu mà hóa ra vẫn tươi nguyên, chỉ cần chạm khẽ là bừng dậy mùi khói bếp, mùi bánh chưng luộc và cái rét cắt da của những ngày cuối năm...

Thời ấy, cả năm thiếu thốn nên Tết trở thành một mốc thời gian thiêng liêng. Nhắc đến Tết là nhắc đến “vị Tết”, những món ăn được chuẩn bị từ sự chắt chiu của cả năm.
Bởi vậy, Tết thời bao cấp không đến vào những ngày cuối tháng Chạp. Nó rậm rịch từ rất sớm, từ khi mẹ mua đàn gà giống về nuôi sau rằm tháng Tám, từ những lần mẹ lặng lẽ cất những ô phiếu để dành... Dù khó khăn đến đâu nhưng năm nào mẹ cũng lo Tết chu đáo. Giữa bộn bề thiếu thốn, mẹ vẫn giữ những nghi thức Tết một cách trang trọng, như một cách tự nhắc mình và dạy con cái rằng: Nghèo thì nghèo, nếp nhà không được xô lệch.
Trong ký ức của tôi, Tết vui nhất là thời gian tất bật chuẩn bị trong nôn nao, háo hức. Những ngày giáp Tết, tôi theo mẹ đi xếp hàng mậu dịch từ mờ sáng. Người đông, hàng dài, ai cũng khoác chiếc áo bông sờn cũ, giấu bàn tay lạnh cóng vào túi áo, mắt nhìn về phía quầy hàng với một niềm hy vọng lặng lẽ. Hàng hóa không nhiều, thời gian chờ đợi thì dài, nhưng trong mắt mỗi người vẫn ánh lên một niềm mong mỏi rất thật: Mong có thêm chút Tết cho gia đình.
Ngày ấy, “túi hàng Tết” giống như cả một “gia tài” thu nhỏ. Không nhiều nhặn gì, chỉ là miếng bóng bì, ít mộc nhĩ khô, bó miến, hộp mứt nhỏ, chút chè, chai rượu chanh và bánh pháo buộc cẩn thận bằng sợi dây lạt. Vậy mà mang về nhà đặt lên bàn, Tết như đã hiện hữu.
Sau "ông Công ông Táo", mẹ mang bột, đường, vài quả trứng ra lò đầu phố làm bánh quy gai. Cả ngày chờ đợi đổi lấy một túi bánh thơm lừng mang về, đủ để lũ trẻ nâng niu từng miếng bánh nhỏ. Rồi đến món dưa hành. Dưa tãi ra phơi từng lá cho se bớt, muối trước. Hành thì ngồi bóc bớt lớp vỏ ngoài, cay xè mắt. Sau đó mới ngâm nước tro, nước vôi, muối, nén... phải mấy ngày mới xong.
Nhưng trông chờ nhất vẫn là nồi bánh chưng. Củi bố gom từ trước đó rất lâu; mẹ xếp hàng mua lá dong rồi về chọn từng tàu lá, phân loại, rửa sạch rồi để ráo nước... Trước hôm gói bánh, gạo nếp được ngâm kỹ, đỗ xanh đãi cẩn thận, sau đó đồ chín, rồi cho vào cối giã nhuyễn ra, nắm thành từng nắm tròn, vàng tươi, mỗi cái bánh là một nắm. Gạo nếp sau ngâm để cho ráo nước. Thịt lợn được tẩm ướp nước mắm, hạt tiêu...
Nhà tôi thường gói bánh bằng khuôn. Mẹ thận trọng xếp lá, đổ gạo vào, dàn bốn góc cho đều, rồi cho đậu xanh, đặt thịt, phủ đậu xanh, đổ nốt bát gạo lên trên cùng, rồi gấp lá lại, buộc lạt... Cứ thế, đến quá trưa là xong 10 cái bánh. Chị em tôi luôn năn nỉ mẹ gói cho một chiếc bánh nhỏ để khoe với chúng bạn.
Tối mùa đông rét mướt, xúm quanh nồi luộc bánh chưng thì không gì thú vị bằng. Bên trên nồi để cái thau đồng có thả nắm lá mùi già. Khi nồi bánh sôi lục bục thì thau nước cũng nóng già, tỏa ra mùi thơm đặc trưng của Tết. Ánh lửa bập bùng soi rõ những khuôn mặt gầy mang một niềm háo hức rất trong trẻo. Những chiếc bánh con được vớt ra sớm. Bóc chiếc bánh nóng hổi, mùi lá dong - mùi Tết - ùa lên ngậy thơm cả trời đêm.
Đặc biệt, thiếu gì thì thiếu, Tết không thể thiếu một bình hoa tươi, cành đào hoặc chậu quất. Lọ hoa Tết của phần lớn các gia đình Hà Nội khi ấy thường có mấy bông thược dược, mấy cành lay ơn hồng, trắng, điểm thêm vài nhành violet, mấy bông đồng tiền đơn. Giản dị mà trang nhã, như một lời gửi gắm hy vọng cho năm mới. Với nhiều người bây giờ, violet, thược dược hay lay ơn chỉ là những bông hoa “phổ thông”, còn với tôi, được nhìn ngắm lọ hoa này là được quay về tuổi thơ, trở về cái không khí xuân Hà Nội với biết bao kỷ niệm êm đềm và ấm áp bên gia đình.
Và Tết thời bao cấp không thể thiếu mùi pháo, thứ mùi mang âm hưởng Tết nhiều nhất. Ngày ấy, tiếng pháo rộn ràng từ ngày 27 tháng Chạp, đến giao thừa thì nổ dồn dập, khói pháo mù mịt, mùi thuốc pháo ngan ngát - mùi của thiêng liêng, của hân hoan, của khởi đầu. Sáng mùng Một, xác pháo hồng nhuộm đầy ngõ nhỏ...
Nhưng phía sau những náo nức ấy là sự vất vả lặng lẽ của mẹ. Thời bao cấp không sẵn để mua nên cái gì cũng phải tự làm. Tôi vẫn nhớ những đêm đông lạnh, mẹ sên mứt dừa, mứt gừng thơm lựng ngoài sân. Cái mùi cháy của đường phảng phất mùi va ni cực cuốn hút. Có năm, mẹ còn thức thâu đêm đan áo len cho kịp sáng mùng Một chị em tôi diện Tết.
Buổi chiều cuối năm luôn tất bật nhưng mẹ không quên đun một nồi nước lá mùi già để cả nhà tắm gội. Mùi hương giản dị ấy, chỉ cần thoảng qua trong gió lạnh cũng đủ sức mạnh đánh thức cả một trời ký ức. Tắm nước lá mùi già có ý nghĩa như một nghi thức thanh tẩy tinh thần, để con người bước vào năm mới với sự tinh tươm và thiện lành.
Bữa cơm tất niên chiều 30 có thể xem là bữa cỗ Tết ngon nhất. Mẹ vừa làm cỗ vừa giảng giải, truyền lại từng kinh nghiệm nhỏ trong nấu nướng, trong cách bày biện, trong cả lối sống cho mấy chị em. Mâm cỗ ngày ấy chỉ có nem rán, gà luộc, thịt đông, hạnh nhân xào, xôi gấc đỏ, bát canh bóng, bát canh măng... nhưng được chuẩn bị kỹ càng, bởi mẹ tin rằng đó là tấm lòng dâng lên tổ tiên, gửi gắm mong ước bình an cho gia đình. Mùi hương trầm khiến căn nhà ấm lại trong cái lạnh đầu xuân. Rồi tiếng pháo của nhà nào đó nổ vang... Mùa xuân tràn ngập căn phòng.
Đã gần bốn mươi năm trôi qua nhưng những thanh âm, hương vị, hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn trong tôi như ngọn lửa nhỏ âm ỉ cháy trong lòng. Tôi từ một đứa trẻ mong Tết đến người phụ nữ tự tay lo Tết cho gia đình. Có lúc mệt, có lúc sợ Tết, nhưng rồi tôi nhận ra mình đang đi đúng con đường mẹ và bà đã đi: Giữ nếp nhà. Tết bây giờ đủ đầy hơn, mua sắm nhanh gọn hơn, nhưng người nội trợ đảm đang bao giờ cũng muốn tự tay làm. Phần vì như thế mới yên tâm. Phần lớn hơn, cái sự xốn xang chuẩn bị các món Tết cũng là một niềm vui. Tôi muốn các con hiểu những bận rộn, vất vả này chính là niềm hạnh phúc được thắp lửa ấm cho gia đình, là truyền thống tốt đẹp gìn giữ cho tương lai.
Một mùa xuân mới đang đến thật gần. Vị Tết dù có thay đổi theo sự cảm nhận khác nhau của mỗi người, theo sự thay đổi của thời cuộc, nhưng nó vẫn nồng nàn như thế. Để rồi khi bất chợt nghe ấm áp mùi hương trầm nhà ai thoang thoảng trong mưa phùn, gió lạnh cuối năm lại nôn nao nhớ về những cái Tết thời bao cấp, cái Tết của sự nhọc nhằn, của sự chắt chiu, nhưng cũng là cái Tết của những giá trị tinh thần vĩnh cửu, không bao giờ phai nhạt.