Hà Nội 360

Những nữ danh nhân được đặt tên đường phố ở Thủ đô

Nguyễn Ngọc Tiến {Ngày xuất bản}

Dù cách gọi khác nhau song phố hay đường đều được đặt tên để định danh, định vị, tôn vinh và lưu giữ ký ức lịch sử. Vì thế, nhiều thành phố thường lựa chọn những địa danh cổ, các anh hùng dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, danh nhân văn hóa hay sự kiện lịch sử tiêu biểu... để đặt tên.

Tại Hà Nội, giữa những tấp nập và vội vã, những con đường, góc phố mang tên những người phụ nữ được ví như những nét chấm phá dịu dàng. Đó không chỉ là sự ghi nhận những đóng góp của họ đối với đất nước, mà còn là sự tôn vinh vị thế và vai trò của người phụ nữ trong lịch sử dân tộc cũng như trong lòng nhân dân.

10-ten-duong.jpg
Phố Bà Triệu - một con phố đẹp của Hà Nội. Ảnh: Internet

Tên phố có từ bao giờ

Từ nhà Lý đến triều vua Thiệu Trị (1841-1847), đơn vị hành chính nhỏ nhất ở Thăng Long - Hà Nội là phường, thôn, trại. Từ “phố” xuất hiện khá nhiều trong thơ ca trung đại với nghĩa là bến sông. Trong bài thơ chữ Hán “Thu chí” của Nguyễn Du có câu “Hồi thủ Lam giang phố”, nghĩa là ngoảnh đầu về bến sông Lam. Trong bài “Tương giang hiểu phát”, Ngô Thì Nhậm viết “Viễn phố điều điều tế dục vô”, còn ở bài “Cảnh chiều hôm” của Bà Huyện Thanh Quan có câu “Gác mái ngư ông về viễn phố”. Ở hai bài thơ này, “viễn phố” đều mang nghĩa là bến xa.

Từ “phố” với nghĩa là cửa hàng, buôn bán, dùng để gọi và định danh các tuyến buôn bán, xuất hiện trong thời vua Tự Đức (1847-1883). Theo sách “Chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876” của Trương Vĩnh Ký, trung tâm tỉnh Hà Nội khi đó là huyện Thọ Xương, vốn là kinh đô Thăng Long, có 21 phố, trong đó có 13 phố bắt đầu bằng chữ “Hàng”.

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chiếm tỉnh Hà Nội. Ngày 19-7-1888, chính phủ Pháp ban hành sắc lệnh lập thành phố Hà Nội thuộc Pháp (concession) trên phần đất của huyện Thọ Xương. Năm 1888, chính quyền Pháp ép vua Đồng Khánh ra chỉ dụ cắt phần đất này cho Pháp. Lấy lý do không thể tồn tại đồng thời thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nội, họ chuyển tỉnh lỵ Hà Nội về Cầu Đơ và đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Hà Đông.

Trước khi chính thức thành lập thành phố Hà Nội thuộc Pháp, người Pháp đã tiến hành quy hoạch, chỉnh trang khu vực phố cổ theo mô hình đô thị phương Tây, đồng thời xây dựng các tuyến phố mới. Họ đặt tên đại lộ, đường và phố, đánh số nhà để thuận tiện cho việc quản lý. Năm 1890, Hà Nội có 79 đại lộ và phố, trong đó 39 phố bắt đầu bằng chữ “Hàng”. Một số tuyến phố mang tên người Pháp, nhưng chưa có phố nào mang tên người Việt.

Theo thời gian, khi Hà Nội tiếp tục được mở rộng, số lượng đường và phố ngày càng nhiều. Chính quyền Pháp cũng đặt ra những nguyên tắc nhất định trong việc đặt tên phố: Bên cạnh các địa danh cũ, họ bắt đầu sử dụng tên một số danh nhân. Tuy nhiên, những người được lấy tên để đặt cho những con phố, dù là người Pháp hay người Việt, thường là các nhân vật có công với nước Pháp hoặc có liên quan đến xứ Đông Dương.

Nét chấm phá dịu dàng giữa lòng đô thị

Tháng 7-1945, chính phủ thân Nhật của ông Trần Trọng Kim đã mời bác sĩ Trần Văn Lai giữ chức Thị trưởng Hà Nội. Ngay sau khi nhậm chức, việc đầu tiên Thị trưởng Trần Văn Lai thực hiện là xóa bỏ các tên phố, đường, vườn hoa, quảng trường mang tên người Pháp. Với tinh thần dân tộc rõ nét, bác sĩ Trần Văn Lai lựa chọn các địa danh lịch sử, địa danh cổ của Hà Nội, đặc biệt là tên những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, những tấm gương đạo đức và các nhà tư sản dân tộc tiêu biểu để đặt tên đường phố. Trong số đó, nhiều phụ nữ nổi tiếng đã được chọn đặt tên cho những tuyến phố lớn như Trưng Trắc, Trưng Nhị, “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, nữ tướng Tây Sơn Bùi Thị Xuân...

Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội. Ngày 31-12-1945, ông ký sắc lệnh đổi tên phố, đường và vườn hoa. Sắc lệnh này vừa điều chỉnh một số tên phố do ông Trần Văn Lai đặt, vừa bổ sung thêm tên một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong danh sách mới có nhiều phụ nữ được lấy tên đặt cho các tuyến phố như phố Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị), Bà Triệu (Triệu Thị Trinh), Lê Chân, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Kim, Ấu Triệu, Dương Thị Ái và Nguyễn Thị Minh Khai...

Sử sách các thời kỳ ghi chép khá nhiều về Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bà Triệu, Lê Chân, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương hay nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai. Tuy nhiên, công tích của các bà Nguyễn Thị Kim, Ấu Triệu, Dương Thị Ái lại ít được nhắc đến.

Bà Nguyễn Thị Kim là ai? Sử chép bà Nguyễn Thị Kim (? - 1804) là hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống. Khi vị vua này mang theo con trai sang cầu cứu nhà Thanh, bà ở lại chờ chồng suốt gần 16 năm. Sau khi thi hài Lê Chiêu Thống cùng con trai được triều Thanh cho đưa về nước, bà đã tuyệt thực. Đến ngày cải táng hài cốt chồng, bà uống thuốc độc tự vẫn. Sau khi bà mất, dân chúng nhiều nơi ca ngợi bà là bậc tiết hạnh. Việc lấy tên bà đặt tên phố cho thấy tư tưởng tiến bộ của ông Trần Duy Hưng khi tôn vinh cả những tấm gương đạo nghĩa trong lịch sử.

Thân thế bà Ấu Triệu cũng khá đặc biệt. Ấu Triệu là tên gọi của Lê Thị Đàn (? - 1910), quê ở Thừa Thiên Huế, một liệt nữ của phong trào Duy Tân và Đông Du. Khi bị giam tại nhà lao Quảng Trị, bà đã lấy máu viết ba bài thơ tuyệt mệnh lên tường rồi dùng khăn thắt cổ tự vẫn. Trong cuốn “Việt Nam liệt sĩ”, nhà cách mạng Phan Bội Châu gọi bà là Ấu Triệu - nghĩa là “Bà Triệu nhỏ”. Có lẽ vì cảm phục ý chí kiên cường, tinh thần hiếu trung và tiết nghĩa của người phụ nữ này mà các ông Trần Văn Lai và Trần Duy Hưng đã lấy tên Ấu Triệu đặt tên phố.

Còn bà Dương Thị Ái, còn có tên khác là Dương Thị Vi hoặc Dương Thị Như Ngọc, là con gái hào trưởng Dương Đình Nghệ. Năm 923, khi quân Nam Hán xâm chiếm An Nam, bà đã giúp cha tuyển mộ và lập đội nữ binh, phối hợp tấn công vào lỵ sở Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Sau này, bà kết duyên với Ngô Quyền. Năm 938, khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, xưng vương và lập bà làm Hoàng hậu.

Trong lần đặt lại tên phố năm 1949, một phụ nữ khác cũng được lấy tên đặt cho phố là Huyền Trân công chúa (1287-1340), con gái vua Trần Nhân Tông. Năm 1306, bà được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lý - vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra đến Quảng Trị ngày nay. Đây được xem là sự kiện góp phần mở rộng bờ cõi nước ta về phía Nam.

Sau năm 1954, Hà Nội không còn giữ tên các phố mang tên Nguyễn Thị Kim và Dương Thị Ái. Thay vào đó, Thành phố đã lấy tên công chúa Lê Ngọc Hân và anh hùng Võ Thị Sáu để đặt tên cho các tuyến phố mới.

Sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nội đô Hà Nội tiếp tục mở rộng, nhiều tuyến đường và phố mới được hình thành. Tính đến hết năm 2025, Hà Nội có khoảng 1.131 đại lộ, đường và phố, trong đó khoảng 431 tuyến mang tên anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, những người có công trong các cuộc kháng chiến, cùng nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ tiêu biểu trên các lĩnh vực. Trong số đó có nhiều tuyến phố mang tên những phụ nữ nổi tiếng, được người dân yêu mến và kính trọng như Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị), Bà Triệu, Lê Ngọc Hân, Bùi Thị Xuân, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ấu Triệu, Hoàng Ngân (tên thật là Phạm Thị Vân), Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, công chúa Từ Hoa (con vua Lý), Nguyễn Thị Duệ, Đạm Phương, Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định, Đặng Thùy Trâm và cả nhân vật trong truyền thuyết là bà Âu Cơ. Những tên phố ấy không chỉ mang ý nghĩa địa lý đơn thuần mà còn là lời nhắc nhở bền bỉ về những đóng góp và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Nguyễn Ngọc Tiến