Bức thư
Quyết định nghỉ hưu đến với tôi như một cơn gió nhẹ nhàng. Không còn công việc bộn bề, không còn những chuyến công tác, hội họp liên miên. Tôi trở về làm một ông lão bình dị, vui thú điền viên. Lòng như có cánh, thôi thúc ý muốn đi đây đó sau những tháng ngày gò bó. Việc nhà không nhiều, con cháu ủng hộ nên tôi nhanh chóng thu xếp lên đường đi Hà Nội, điểm khởi đầu cho hành trình tìm lại chính mình.
Hà Nội đón tôi như một người tình cũ với nhiều nếp nhăn trên khóe mắt và mái tóc pha màu sương gió. Trong quán nhỏ ở góc ngã tư quen thuộc, thời đi học tôi thường cùng người bạn thân tên Sơn ghé uống cốc trà đá đường miền Tây. Hẳn là vì thương cậu sinh viên miền Nam nhớ quê nên bà chủ quán đã nấu riêng cho tôi thứ nước uống mà đất Bắc khi ấy chưa có. Bởi thế mà ngồi đây tôi thấy thân thuộc như ở quê nhà. Sau này, mỗi lần ra Hà Nội công tác tôi đều tìm đến chốn này.
Có lẽ sau khi nghỉ hưu thời gian trôi chậm hơn, nhờ vậy mà tôi có cuộc hẹn thong thả với Sơn. Đôi mắt bạn vẫn tinh anh dưới hàng lông mày rậm, nhuốm bạc theo thời gian. Nhâm nhi ly đen nóng giữa tiết trời se lạnh, nhìn ra phía ngã tư đường phố xe cộ qua lại không ngớt, Sơn trầm giọng kể rằng, thời chiến, những người lính quê miền Bắc mỗi khi biết tin có người cùng đơn vị được về phép thường tranh thủ viết thư nhờ đồng đội chuyển giúp về quê nhà. Chỉ cần người đi phép về đến ngã tư này, đặt mớ thư ấy ở góc quán, y như rằng sẽ có người chuyền tay nhau, dò địa chỉ và lặng lẽ đưa về đúng nơi, dù có phải đạp xe hàng chục cây số, dẫu mưa giông hay nắng hạ. Không ai hỏi ai, không ai đòi ơn, chỉ là cái nghĩa của đời, cái tình của người. “Có những bức thư viết từ Trường Sơn mà vượt qua cả nghìn cây số, lặn lội qua bom rơi đạn nổ, mưa thấm nắng phai nét chữ mà vẫn về đến tay người thân của chiến sĩ. Như thể chính tình yêu thương đã trở thành sức mạnh vô hình dẫn lối cho từng con chữ”.
Nghe Sơn kể, ký ức ngủ quên trong tôi chợt như được đánh thức. Rõ ràng như thể tôi đang cùng đồng đội lặn lội bên mạn sông Tiền, đầu đội khóm lục bình rậm rạp, chầm chậm trôi theo con nước trong cái đêm ở Giồng Găng năm ấy…
***

Dòng sông gợn sóng nhẹ như ru, ánh trăng vàng bệch do bị phủ qua một lớp sương mỏng. Mặt nước trải dài mênh mang, im lìm như nín thở. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ trinh sát đồn Giồng Găng, bốn anh em chúng tôi nương theo đám lục bình rậm rạp lặng lẽ bơi ngược trở về căn cứ. Làn nước lạnh ngắt ôm chặt lấy da thịt, thấm vào tận xương. Mỗi lần ánh đèn pha từ tháp canh quét tới, cả bọn lại đồng loạt lặn sâu, nín thở chờ luồng sáng chết chóc trôi qua rồi mới ngoi lên. Cảm giác như nghe rõ cả nhịp tim của người bên cạnh.
Trong lúc vừa lặng lẽ trườn mình trong bóng tối vừa quan sát xung quanh, tôi bỗng thấy một khóm lục bình phía sau có sự chuyển động khác thường. Linh cảm của người lính trinh sát khiến tôi lập tức ra hiệu cho anh em dừng lại. Đám lục bình ấy mỗi lúc một áp sát. Trong làn nước đục mờ, một bóng người ẩn hiện. Tôi nhanh chóng nhận ra bộ quân phục rằn ri.
Cả bốn anh em lập tức rút dao thủ sẵn. Chỉ cần hắn kêu lên, ánh đèn quét tới là chúng tôi sẽ trở thành bốn tấm bia sống giữa mặt sông. Nhưng thật lạ, vừa khi luồng đèn pha quét đi, hắn đã nhô đầu lên, hai tay run rẩy giơ cao:
- Đừng bắn… Tôi đầu hàng…
Cho đến giờ, khoảnh khắc ấy vẫn khắc sâu một vết đậm trong ký ức của tôi. Hai đồng đội phía sau nhanh chóng áp sát, trói gọn hai tay tên địch bằng sợi dây thừng, bịt miệng hắn kịp khi ánh đèn sắp quét đến. Tên lính không giãy giụa. Hắn chịu trói, ánh mắt không mang vẻ thù địch hay hoảng loạn mà chỉ có nét van xin. Hắn ngoan ngoãn hợp tác, theo chúng tôi luồn rừng về căn cứ.
Sau khi được sưởi ấm và ăn mấy khoanh bánh tét, tên lính bắt đầu mở lời. Với giọng miền Trung nhỏ nhẹ, hắn khai tên là Nhơn, vốn là ngư dân, quê ở một tỉnh miền Trung, trong một lần ra khơi đánh cá thì bị tàu hải quân ngụy bắt giữ, rồi bị đưa vào lính quân dịch. Hắn ấp úng nói:
- Trong thâm tâm, tôi luôn tìm cách đào ngũ. Hôm nay đúng phiên tôi gác, tôi giả vờ đi tuần rồi tính bơi trốn theo lối bìa rừng thì gặp các anh…
Nhơn tự nguyện vẽ lại sơ đồ đồn, chỉ rõ từng lối đi, vị trí chốt gác, tất cả đều khớp với kết quả điều nghiên của nhóm trinh sát, thậm chí hắn còn khai cả thời gian thay ca.
Cầm chắc thông tin trong tay, chúng tôi thầm nghĩ đến một trận đánh lớn trong nay mai. Thấy đêm đã khuya, chỉ huy ra lệnh đưa tù binh vào một căn hầm, buộc mấy thanh gỗ làm cánh cửa rồi cử người canh gác cẩn thận, không quên dặn anh em cấp cho hắn một cái võng mùng, tạm thời như vậy đến mai sẽ báo cáo, xin ý kiến cấp trên về cách xử trí tiếp theo. Trước khi bước đi, Nhơn níu tay tôi van nài:
- Mong các anh thương xót, giúp đỡ cho tôi được về lại quê hương. Tôi thề sống chết gì cũng không làm người có tội với cách mạng, với đất nước.
***
Trong lúc chờ cấp trên duyệt phương án đánh đồn, bất ngờ giữa trưa hôm sau đơn vị chúng tôi bị pháo kích. Đất trời rung chuyển. Tiếng nổ liên hồi muốn xé toạc màng nhĩ, đất đá văng tung tóe. Sau loạt pháo tan, nhiều đồng đội ngã xuống. Trong lúc bới tìm đồng đội, chúng tôi tìm thấy cả xác của Nhơn bị đất lở vùi lấp bên mép hầm trú ẩn.
Cơn giận dữ như mạch ngầm bị bom đội vỡ trào lên. Nhiều người trong đơn vị cho rằng, chính hắn đã lợi dụng vẻ ngoài yếu đuối để đánh lừa chúng tôi, để chỉ điểm cho địch. Nhưng chẳng hiểu sao lúc đó, nhìn những đồng đội mình hy sinh và cái xác lạnh tanh của Nhơn, tôi lại đứng chết trân, đầu óc trắng như một vệt khói nhang trôi thăm thẳm. Tôi thấy cái chết nào cũng là sự kết thúc của một sinh mệnh và tôi không chắc rằng một kẻ phản bội liệu có gan chết chung với chính những người mà hắn đã phản bội?
Hôm ấy, khi chôn cất đồng đội, chúng tôi cũng đào riêng một huyệt mộ dành cho Nhơn. Kiểm tra túi quần áo của hắn, tôi phát hiện một lọ thuốc bằng nhựa nhỏ, bên trong là một mảnh giấy nét mực đã nhòe đôi chút nhưng vẫn đọc được họ tên, quê quán, tên vợ, tên mẹ và một dòng ghi chú: “Nếu tui chết, xin ai nhặt được gửi về cho mạ và vợ tui”. Phía dưới là một dòng thư ngắn ngủi: “Tui bị bắt quân dịch. Không biết sống chết ra sao. Nhưng tui sẽ tìm đường về với mình. Mình nói với mạ và các eng đừng giận tui. Tui chưa từng làm điều gì sai trái!”. Cuối thư có chữ ký và dòng tên “Nguyễn Văn Nhơn”.
Những dòng chữ đơn sơ ấy sao mà thấm đẫm nỗi đau. Tôi đặt mảnh giấy vào giữa cuốn từ điển cũ, món quà của thủ trưởng tặng tôi ngày chia tay chiến trường, cất vào ba lô như gác lại một nỗi niềm chưa sáng tỏ.
Chỉ ít lâu sau, ngày toàn thắng như cơn lốc ào tới mang theo bao niềm vui vỡ òa. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi được thủ trưởng đơn vị cử đi học đại học ở Thủ đô Hà Nội, sau khi tốt nghiệp sẽ trở về xây dựng quê hương. Hành trình mới với bao nỗi háo hức, lo toan cuốn tôi đi. Có lẽ lá thư năm xưa sẽ rơi vào quên lãng, nếu như không có câu chuyện của Sơn hôm nay…
***
Tôi mau chóng trở về nhà trong cơn thao thức của tâm hồn. Lá thư năm xưa tôi nhớ rõ từng nét chữ, từng vết nhòe, nhưng cuốn từ điển cũ tôi đã thất lạc đâu mất. Những lần chuyển trọ, chuyển nhà, chuyển cơ quan, chuyển phòng làm việc… đã khiến bao kỷ niệm cũ rơi rụng theo năm tháng. Tôi lục tung từng hộc tủ, từng chồng sách cũ, mở các hộp giấy đã úa vàng, lật từng trang sổ tay, từng cuốn nhật ký thời chiến. Có những đêm tôi thức trắng, mở đèn lần tìm từng ngóc ngách, lòng nóng như lửa đốt.
Nhưng đúng lúc gần như buông xuôi trước số phận, tôi như nghe bàn tay định mệnh khẽ gõ vào tâm hồn, nhắc rằng ký ức có thể tạm thời bị chôn vùi chứ không thể mất đi. Trong góc nhà kho, dưới đáy thùng đạn cũ, giữa đống dây dù và các vật dụng linh tinh, tôi tìm thấy cuốn từ điển gáy sờn, những trang giấy ố màu thời gian. Nằm giữa cuốn sách đã quăn mép, lá thư của Nhơn vẫn nguyên vẹn từng dòng, từng nét chữ, thoang thoảng một mùi ngai ngái của thuốc súng và giấy thấm nước đã khô. Ngồi lặng thật lâu, tay tôi run run cầm bức thư như đang nắm giữ một nhịp thở cuối từ cõi xa xăm.
Tôi bắt đầu hành trình tìm kiếm thân nhân của người tù binh năm xưa. Bốn tháng ròng rã với nhiều chuyến đi về, tôi dò từng dòng họ tên, lần từng mẩu thông tin ít ỏi trong tờ giấy cũ. Có lúc tưởng chừng như đã đâm vào ngõ cụt. Nhưng rồi, như có một sợi chỉ vô hình dẫn lối, tôi lặn lội tìm được một căn nhà nhỏ nơi một làng biển miền Trung khá khuất nẻo.
Nhìn vào trong căn nhà ấy, thấp thoáng nơi ban thờ là hai tấm bằng Tổ quốc ghi công treo ngay ngắn. Một người đàn bà độ gần bảy mươi, gầy gò khắc khổ, mái tóc muối tiêu mở cổng đón tôi vào. Bà nhìn tôi bằng đôi mắt mệt mỏi và sâu thẳm như đã vét cạn từng giọt hy vọng.
- Chào ông! Ông tìm ai ạ?
- Tôi tìm vợ anh Nguyễn Văn Nhơn.
Tôi vừa nói vừa nhìn thẳng vào đôi mắt kia, nơi vừa ánh nên một thoáng ngỡ ngàng.
- Vâng, chồng tôi là Nhơn… Không lẽ…
Bà chính là vợ người tù binh năm xưa. Họ lấy nhau năm mười tám tuổi, chưa kịp sống trọn một mùa trăng mật thì trong một chuyến đi định mệnh, chồng bà và những ngư dân cùng đi trên chiếc ghe đánh cá xa bờ không thấy trở về. Ít lâu sau có tin đồn về làng, rằng cả đám dân chài ấy đều đã đi theo giặc. Dù bà có hai người anh chồng là liệt sĩ, nhưng vẫn có không ít ánh mắt ngờ vực, xa lánh của láng giềng. Dẫu vậy, bà vẫn nuôi giữ niềm tin rằng chồng mình không phải là kẻ phản bội.
Tôi lấy trong túi ra bức thư, đưa bà bằng hai tay. Bà đón lấy như thể vừa nhận một báu vật thiêng liêng. Những ngón tay gân guốc không run rẩy, nhưng khi chạm vào mảnh giấy ấy lại chậm rãi đến lạ kỳ, như sợ nó sẽ tan biến. Đọc xong dòng chữ cuối, đôi mắt bà ngấn nước. Một lúc sau bà mới lên tiếng, giọng như vỡ ra:
- Vậy là… ông ấy đã nói được lời cuối cùng.
Tôi kể lại câu chuyện của đêm Giồng Găng năm xưa, về người lính trẻ muốn trốn về nhà, về cái chết bất ngờ và về nỗi ám ảnh đã theo tôi suốt bao năm. Bà ngồi im lặng, hai tay nắm chặt lấy bức thư, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.
- Cả đời tôi đã chờ tin này. Dù chỉ để xác nhận điều tôi luôn tin.
Chiều hôm ấy, bà lặng lẽ thắp hương cho mẹ chồng, cho hai người anh chồng và nói với tôi, giọng bà nghèn nghẹn:
- Hơn bốn mươi năm rồi bác à. Tôi chưa dám lập bàn thờ ông ấy. Nhưng giờ thì có thể rồi.
Rồi bà ngước lên, nhìn tôi, giọng run nhè nhẹ:
- Bác là nhân chứng, xin bác thắp giúp tôi nén nhang cho mạ và các anh. Để họ biết…, để họ tin.
Tôi làm theo. Mùi nhang trầm bay lên, quện vào nắng chiều loang dần trên bức vách vôi. Tôi không biết liệu những người đã khuất có thật sự nghe thấy không, nhưng tôi tin, ít nhất trong tâm hồn người đàn bà ấy đã được thanh thản. Thanh thản khỏi nỗi chờ đợi khắc khoải tưởng như không hồi kết.