Hà Nội văn

Hồn làng giữa lòng phố thị

Mai Hoàng {Ngày xuất bản}

Mới hôm trước, trong cuộc nói chuyện, đám bạn tôi chợt hỏi nhau về thời gian đã ở lại Hà Nội. Thú thực, đã có lúc tôi quên mất, hay đúng hơn là nhịp sống hối hả đã cuốn đi cái thói quen ngồi đong đếm những tháng năm mình thuộc về nơi này. Phải đợi đến một cái “cớ” dịu dàng như hôm nay, tôi mới cho phép mình dừng lại, để ôn lại ký ức về ngày đầu đến với Hà Nội.

t10-minh-hoa.jpg
Minh họa: Nguyên Sa

Tôi đặt chân đến Hà Nội từ năm 2006, thấm thoắt vậy mà đã tròn hai mươi năm. Vùng đất đầu tiên đón đợi bước chân tôi là Trung Văn, khu trọ nhỏ nằm nép mình bên con kênh hiền hòa ven sông Nhuệ. Đó là một xóm trọ nghèo, nơi tụ họp của những mảnh đời lao động và sinh viên xa nhà. Phía sau những ồn ào phố xá, khi lặng lẽ quan sát, tôi chợt nhận ra nơi này còn biết bao điều thú vị. Đó là một vùng đất trĩu nặng trầm tích văn hóa với những mái đình, ngôi chùa cổ kính.

Nếu là một người nặng lòng với những giá trị xưa cũ, hẳn sẽ không thể bỏ qua đình Trung Văn - ngôi đình linh thiêng có từ thời Lê. Nơi đây phụng thờ Thủy Hải Long Vương, Lạc Long Quân và đặc biệt là vị tướng tài ba thời Lê Hoàn - Đào Trực. Sử sách và lời kể của cha ông vẫn còn vang vọng về công lao của ông khi cầm quân đánh đuổi giặc Tống ở phương Bắc, rồi lại can trường dẹp giặc Chiêm xâm lấn phương Nam. Sau những trận mạc oai hùng, ông bị thương và trút hơi thở cuối cùng khi về đến đất Trung Văn. Cảm mến cốt cách và lòng trung trinh ấy, dân làng đã tôn ông làm thành hoàng. Với những giá trị kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc, ngôi đình đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia từ năm 1991.

Bên cạnh đình Trung Văn, ngôi chùa cổ tọa lạc trên khu đất rộng thoáng sát dòng sông Nhuệ cũng là một danh thắng nức tiếng. Chùa Trung Văn hiện lên với dáng vẻ uy nghiêm, cổ kính qua cấu trúc tòa Tam bảo hình chữ “Đinh” vững chãi, phía sau là nhà thờ Tổ tôn nghiêm và điện thờ Mẫu nằm nép mình bên trái, tạo nên một không gian tâm linh tầng tầng lớp lớp.

Điều làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của ngôi chùa chính là bộ sưu tập di vật quý báu từ thế kỷ XVIII - XIX, nơi những tạo tác bằng gỗ, đá, đồng, sứ vẫn vẹn nguyên vẻ tinh xảo qua bao thăng trầm. Bước vào cửa thiền, ta không khỏi trầm trồ trước những pho tượng được chạm khắc công phu, phủ lớp sơn son thếp vàng lộng lẫy, tỏa rạng hào quang giữa khói hương trầm mặc.

Không chỉ vậy, những bia đá rêu phong, chuông đồng ngân vang cùng hệ thống hoành phi, câu đối còn là nguồn sử liệu vô giá. Chúng không chỉ kể câu chuyện về sự hình thành, phát triển của mảnh đất này qua các triều đại, mà còn giúp những người con phương xa như tôi thấu hiểu hơn về phong tục tập quán, về nếp sống hiền lành, cung kính của nhân dân địa phương từ bao đời nay.

Trung Văn với tôi không chỉ là một trạm dừng chân tạm bợ trong hành trình hai mươi năm lăn lộn ở Hà Nội. Dù cho xóm trọ vẫn chật chội và những lo toan cơm áo chưa bao giờ thôi đeo bám, nhưng chính sự tĩnh lặng của ngôi đình cổ hay tiếng chuông chùa đổ bên sông Nhuệ đã giúp tôi giữ lại được chút an yên trong lòng. Một ngôi làng Việt cổ vẫn lầm lũi sống giữa lòng phố thị, nơi cho tôi một điểm tựa để nhìn lại mình và cung kính hướng về nguồn cội.

Mai Hoàng