Vườn nhà thắp lửa
Khoảng giữa cuối xuân, đầu hạ, khi nắng bắt đầu rót mật vàng hươm trên những vòm lá, ấy là lúc loài cây lặng lẽ nhất trong vườn nhà bắt đầu... thắp lửa.
Cây nhót nằm ở góc vườn từ hồi tôi còn chưa rõ mặt chữ. Nghe bố kể, đó là món quà xin từ nhà một người quen, nó bén rễ, ở lại, rồi cứ thế lầm lũi lớn lên theo năm tháng gieo neo cùng gia đình. Nhót là loài cây sống khỏe một cách kiêu hãnh và âm thầm. Nó chẳng cần ai nâng niu, tự mình đi qua những đợt rét nàng Bân cắt da cắt thịt để rồi khi trời hửng nắng, những nách lá xanh gầy bỗng nảy ra những bông hoa nhỏ xíu, trắng mịn như lụa. Những cánh hoa khép nép, giản dị, không phô trương, chỉ lặng lẽ đợi ngày đơm quả.

Chừng vài tuần sau, những quả xanh non bắt đầu lộ diện, chúng khoác một lớp vảy trắng bạc tựa như hạt muối li ti đọng lại. Quả lớn dần, ngả vàng rồi chín rộ, đỏ mọng dưới nắng hè. Nhìn từ xa, cây nhót như được giăng mắc hàng trăm sợi dây đèn nhấp nháy, mà mỗi quả nhót là một đốm lửa nhỏ ấm áp giữa màu xanh mướt của lá vườn. Những buổi trưa nắng hanh, lũ trẻ lại í ới gọi nhau vây quanh gốc nhót, mắt lấp lánh nhìn những chùm quả đỏ mọng lủng lẳng trên đầu.
Để ăn nhót đúng cách và ngon thì chẳng thể vội vàng. Phải chọn quả thật chín, áp vào ống quần vải thô mài đi mài lại thật khéo, cho đến khi lớp vảy trắng tan ra, lộ ra lớp vỏ đỏ au căng bóng. Vị của nhót, với tôi, là một bản giao hưởng đầy góc cạnh của tuổi thơ: Có cái chua thanh của nắng, cái ngọt hậu của đất và cả cái chát nhẹ của những ngày gian khó.
Những quả nhót xanh đập dập chấm muối ớt, chua đến mức cả lũ nhăn mặt, co rúm lại như những chú hề mà tay vẫn không nỡ rời. Có hôm, chúng tôi giấu cả túi nhót đầy vào cặp mang lên lớp, đợi giờ ra chơi là ngả ra, xúm xít chia nhau. Tiếng nhai chóp chép, tiếng cười giòn tan và cả tiếng kêu thất thanh vì quả “chua khó đỡ” cứ thế vang lên giữa sân trường. Những quả nhót nhỏ bé ấy đã giúp chúng tôi đi qua những mùa thiếu thốn bằng một sự hồn nhiên đến lạ kỳ.
Tôi nhớ những năm tháng khốn khó, khi mùa giáp hạt về gõ cửa từng nhà với cái đói. Mẹ tôi, bằng sự thấu hiểu tường tận từng nhành cây ngọn cỏ trong vườn, đã biến những quả nhót chua loét thành vị cứu tinh cho bữa cơm đạm bạc. Chỉ cần dăm quả nhót xanh nấu cùng mấy con cá mọn hay mớ rau hái vội ngoài bờ rào, bát canh cũng trở nên ngọt lành lạ kỳ. Cái vị chua thanh ấy như xoa dịu đi cái nắng oi ả, làm dịu lại những nhọc nhằn.
Khi nhót chín rộ thắp đỏ cả góc vườn, mẹ lại tỉ mẩn ngồi nhặt từng quả, đem ngâm đường làm siro. Những buổi trưa hè nắng nung người như đổ lửa, được nhâm nhi ly nước nhót đỏ thẫm, mát lạnh, cảm giác như bao oi nồng của đất trời đều tan biến hết. Cái màu đỏ ấy cứ thế nhuộm thẫm vào ký ức, để rồi sau này, dù đàn con đã tung cánh bay xa, mẹ vẫn giữ thói quen chắt chiu từng hũ siro gửi lên phố thị. Mẹ gửi đi không chỉ là vị chua ngọt của quê nhà, mà là gửi theo cả tấm lòng người mẹ, sợ con cháu ở xa thèm cái vị chân phương, sợ chúng quên mất lối về nơi mảnh vườn xưa cũ.
Thời gian cứ thế trôi đi như bóng câu qua cửa, tôi rời xa mảnh vườn xôn xao tiếng cười, mang theo bao hoài bão đi dọc dài những tháng năm lo toan đằng đẵng. Giữa phố thị ồn ào và bụi bặm, đôi khi bắt gặp một mẹt nhót đỏ rực trên đôi đòn gánh rong ruổi khắp các ngõ ngách, tôi lại thấy lòng mình xôn xao như gặp lại người bạn cũ. Màu đỏ ấy như thắp lên cả một miền ký ức về mảnh vườn sau nhà, về đôi bàn tay tảo tần của mẹ và những mùa giáp hạt đắp đổi thân thương.

