Ký ức về những “đóa hồng thép” Phú Yên
60 năm đã trôi qua, những cô gái mười sáu, đôi mươi của Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên năm ấy giờ đã thành những người bà, người mẹ tóc trắng pha sương. Dù thời gian đã lùi xa, khí thế hào hùng của những người một thời bám trụ "tọa độ lửa" Cầu Giẽ vẫn vẹn nguyên trong từng hơi thở, từng câu chuyện kể…

Những nữ pháo thủ quả cảm
Cầu Giẽ những năm kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một địa danh, mà là một “tọa độ lửa”. Với vị trí chiến lược là cửa ngõ phía Nam của Hà Nội, không quân Mỹ dốc toàn lực hủy diệt nơi này hòng ngăn chặn nguồn chi viện từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
Ngày 12-6-1966, trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc, Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên được Tỉnh đội Hà Tây giao cho Huyện đội Phú Xuyên (cũ) kết hợp với Xã đội Phú Yên thành lập. Nhiệm vụ của Trung đội là kết hợp tác chiến với bộ đội phòng không giữ vững Cầu Giẽ bảo đảm giao thông thông suốt. Xã Phú Yên (nay là xã Chuyên Mỹ, thành phố Hà Nội) là mảnh đất sinh ra những “đóa hồng thép” nổi tiếng. 25 cô gái trẻ, tuổi đời trung bình chỉ 16, 17 đã hăng hái tình nguyện tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên tuyến lửa.
Lần giở những tấm ảnh kỷ niệm, bà Nguyễn Thị Thà (sinh năm 1950), nguyên Trung đội trưởng Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên, bồi hồi nhớ lại: “Lúc đó tôi mới 16 tuổi. Nhiệm vụ của chúng tôi là trực chiến tại 3 khẩu đội sát chân Cầu Giẽ, phối hợp với bộ đội chủ lực bắn trả máy bay địch, bảo vệ cầu, bảo đảm giao thông thông suốt chi viện cho chiến trường miền Nam”.
Cùng gia nhập đội khi mới tuổi trăng tròn, bà Nguyễn Thị Thảnh (sinh năm 1950) vẫn nhớ như in những ngày đầu: “Sau khi huấn luyện tháo lắp súng và kỹ chiến thuật, các anh bộ đội rút về, để lại đơn vị độc lập chiến đấu. Vì toàn là nữ, các anh trên tỉnh thường gọi vui là “Miếu 12 cô” thay vì tên trận địa chính thức”.
Cái tên dí dỏm ấy xuất phát từ việc cả trung đội 25 người chia ca luân phiên, làm sao để luôn có 12 nữ chiến sĩ túc trực bên mâm pháo 24/24h. Đằng sau cái tên “Miếu 12 cô” là những ngày tháng gian khổ không tưởng. Bà Trương Thị Chúc (sinh năm 1947), xạ thủ số 1, dù ở tuổi 80 nhưng ký ức về đồng đội vẫn rành mạch: "Hồi đó thiếu thốn đủ thứ, chị em phải tự lực hoàn toàn. Hái được mớ rau dệu đã là tốt, không thì chỉ có muối rang bằng mũ sắt cho trôi bát cơm. Lúc vào trận, cơm còn chẳng kịp nấu hoặc vừa bưng bát lên thì bom dội, đất cát trộn lẫn cả. Chúng tôi còn tận dụng cả ụ pháo để trồng mướp, thay phiên nhau đi bắt cua về giã lấy nước nấu canh cải thiện bữa ăn”.
Vẫn vẹn nguyên đôi mắt tinh anh của người xạ thủ chuyên bắt mục tiêu máy bay bổ nhào, bà Nguyễn Thị Quy (sinh năm 1951) bồi hồi nhớ về những ngày bám trụ nơi trận địa: “Bà Chúc là xạ thủ 1, lia thẳng băng 50 viên luôn. Tôi là xạ thủ 2, mắt bắt mục tiêu trúng phóc, các anh bộ đội còn phải khen. Mắt tôi giờ vẫn tinh thế đấy. Ngày ấy, trận địa chỉ là những ụ đất tạm bợ, nước ngập quá đầu gối. Có khi hai tháng liền chị em ăn ngủ tại chỗ, chỉ có mấy cây bương với tấm tranh tre úp tạm làm chỗ nằm. Đêm gió lạnh, đỉa đeo bám tận gầm sàn, chúng tôi phải đóng cọc cao lên mà ngủ”.
Gian khổ, khốc liệt là thế, nhưng tinh thần thép chưa bao giờ lay chuyển. Bà Thảnh bùi ngùi nhớ lại: “Chiến sự khẩn cấp, vào trận nhiều khi chị em chẳng kịp xỏ dép, chân trần bước đại lên những vỏ đạn pháo vừa trút xuống nóng bỏng, rát tuột cả da bàn chân nhưng không một ai nao núng. Chỉ cần Trung đội trưởng hô “Tất cả vào vị trí chiến đấu!” là tất cả lập tức vào chỗ. Sau mỗi trận, Tỉnh đội trưởng Hà Tây thường về tận trận địa bắt tay khen ngợi: “Các em giỏi lắm, con gái trẻ thế này mà đánh giặc giỏi quá".
Ngày trực chiến, đêm sản xuất, những nữ xạ thủ năm ấy cứ thế kiên cường bám trụ trận địa. Bà Nguyễn Thị Hảo (sinh năm 1950) vẫn chẳng thể quên những đêm trắng lội bùn để tự túc lương thực: “Sau những ca trực trận địa ban ngày căng thẳng, đêm xuống chúng tôi lại lội ruộng đi cấy. Phải tranh thủ làm đêm để tránh máy bay địch phát hiện”.
Sự khốc liệt của “tọa độ lửa” Cầu Giẽ không chỉ tính bằng ngày mà kéo dài đằng đẵng qua nhiều năm tháng. Tháng 10-1971, trong một trận oanh tạc dữ dội, bà Chúc đã bị thương rất nặng. Bà Thà nghẹn ngào nhớ lại giây phút sinh tử ấy: “Tôi ôm bà Chúc một bên, bà Phượng một bên. Máu chị Chúc chảy đầm đìa, bệt vào quần áo tôi từ cổ xuống chân. Cứ nghĩ đến cảnh đi chăm sóc hai chị em là nước mắt tôi lại trào ra, ngày ấy khổ cực trăm bề".
Suốt cả tháng trời, bà Thà túc trực bên giường bệnh, chăm sóc đồng đội như chị em ruột thịt. Hiện nay, mảnh đạn năm ấy vẫn còn găm lại trong cơ thể bà Chúc - thương binh hạng 2/4, như một chứng tích lịch sử. Bà Chúc chia sẻ: “Bà Thà không chỉ là người chỉ huy mà còn như người chị, người mẹ, suốt cả tháng trời chăm sóc tôi, từ lúc tôi bất tỉnh cho đến khi bình phục. Khỏi bệnh, tôi lại ra trận địa cầm súng chiến đấu tiếp cho đến ngày thống nhất đất nước mới phục viên". Đỉnh điểm là chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12-1972. Từ tháng 10-1972, máy bay trinh sát địch đã liên tục nhòm ngó trận địa, buộc Trung đội phải trực chiến 24/24h dưới màn mưa bom. Bà Thảnh nhớ lại đêm kinh hoàng: “Khoảng 3h sáng, tốp máy bay thứ nhất vừa vụt qua, tốp thứ hai đã trút bom xối xả xuống trận địa pháo 12 ly 7 Phú Yên. Chị em bị bom giội liên hồi, người trúng mảnh, người bị sức ép, hầu như chẳng ai còn lành lặn. Trận địa bị vùi lấp trong đất cát. Bộ đội bên C3 Đại Xuyên phải sang hỗ trợ, dùng ô tô kéo pháo và đưa những người bị thương đi cấp cứu”.
Dù trận địa tan hoang, nhiều người bị thương và bị vùi lấp dưới đất cát, nhưng Cầu Giẽ vẫn hiên ngang đứng vững nhờ tinh thần quyết tử của những “đóa hồng thép” Phú Yên.
60 năm tình nghĩa và nỗi niềm tri ân
Sau năm 1975, Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên giải thể. Những người phụ nữ can trường ấy trở về với cuộc sống đời thường nhưng vẫn giữ nguyên khí chất của một thời “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, tiếp tục cống hiến cho quê hương thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi.
Trong căn nhà nhỏ ấm cúng của bà Nguyễn Thị Thà hôm nay, những tiếng cười nói rôm rả vang lên, xen lẫn niềm tự hào khi các thành viên hội ngộ. Những mái đầu nay đã bạc trắng, nhưng khi ngồi lại cùng nhau, họ như trở lại tuổi mười sáu, đôi mươi đầy nhiệt huyết. Bà Thà, người "chị cả" của trung đội, bồi hồi chia sẻ: “Năm nay, trung đội tròn 60 tuổi (12/6/1966 - 12/6/2026). Ngày ấy, chúng tôi có 25 chị em, nay chỉ còn lại 23 người. Dù thời gian có trôi đi, chúng tôi vẫn duy trì nền nếp thăm hỏi, gắn bó như chị em ruột thịt trong một gia đình”.
Những buổi gặp mặt này không chỉ để ôn lại chuyện khói bom mà còn sẻ chia những buồn vui tuổi già. Điểm tựa tinh thần lớn lao của các bà chính là những tấm Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những kỷ vật thời chiến vẫn được nâng niu như báu vật.
Ngược dòng thời gian về tháng 6-1975, khi đất nước vừa thống nhất, Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên đã vinh dự được mời dự và báo cáo điển hình tại Hội nghị kỹ thuật pháo cao xạ do Tỉnh đội Hà Tây tổ chức, nhận danh hiệu “Khẩu đội giỏi” và góp công lớn để xã Phú Yên trở thành đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đằng sau niềm tự hào, những vết thương chiến tranh vẫn âm thầm hành hạ các bà mỗi khi trái gió trở trời. Có người mang mảnh đạn trong đầu, có người thính lực tổn thương vĩnh viễn vì tiếng pháo nổ chát chúa. Bà Thảnh nghẹn lời khi nhắc về những thiệt thòi của chị em: “Biết bao nhiêu tấn bom đã trút xuống Cầu Giẽ. Chị em chúng tôi đều đã ngẩng cao đầu chiến đấu, đa số đều bị di chứng nặng nề do sức ép bom đạn”.
Nỗi niềm sâu thẳm của bà Thà, bà Thảnh cùng các đồng đội là sau 60 năm, những hy sinh của tập thể sẽ có được một sự tri ân trọn vẹn. Hiện tại, Trung đội đang tích cực làm thủ tục đề nghị cấp trên phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” cho tập thể. Hy vọng rằng, mong muốn của những người bà, người mẹ sẽ được lưu tâm để sự hy sinh, cống hiến của Trung đội nữ dân quân pháo 12 ly 7 Phú Yên sẽ mãi được lưu giữ và tinh thần thép của những người phụ nữ Việt Nam năm ấy sẽ luôn là tấm gương cho thế hệ mai sau.
Chiến tranh đã lùi xa, Cầu Giẽ vẫn hiên ngang đứng vững như một chứng nhân lịch sử. Thời gian có thể làm mờ những vết bom trên mặt đất, nhưng ký ức về lòng quả cảm của những nữ pháo thủ Phú Yên sẽ mãi trường tồn. Những “đóa hồng thép” năm nào giờ có thể mỉm cười khi nhìn con cháu trưởng thành trên chính mảnh đất mà các bà từng đem xương máu ra bảo vệ. Đó chính là bản hùng ca bất tử về tinh thần “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

