Đậm đà ký ức chè khoai
Làng tôi ven sông Hồng. Con đê sừng sững vẽ một đường mềm mại chia làng ra làm đôi. Một nửa là trong đồng và một nửa ngoài đê, nơi nhà ngoại tôi ở đó. Mỗi buổi chiều mùa hè, sau khi chơi chán ở ngoài cánh đồng, tôi thường sang nhà ngoại, ở đó có món chè khoai đang đợi tôi.

Những đứa trẻ lớn lên ven sông đã quá quen với cảnh trên trời thì nắng chang chang nhưng nước vẫn ngập mênh mông tứ phía. Nhà bà ngoại tôi như một ốc đảo, nổi bật với cây sấu già, những ngọn tre lả lướt và hàng cau lúc lỉu quả, ríu rít những bầy chim làm tổ trong bẹ lá. Tôi đứng trên đê gọi rất to. Chỉ một lát sau, chị tôi chèo thuyền ra đón.
Chiếc thuyền nan của những gia đình trong xóm ngày hai buổi làm phương tiện di chuyển sang bãi bồi bên sông để trồng cũng như chở ngô, khoai, lạc, đỗ, mía... về nhà. Vào những lúc nước lũ dâng cao như thế này, thuyền dùng để chuyên chở người đi quanh xóm, cho trẻ con đi chơi.
Bao giờ cũng thế, vừa về đến nhà ngoại, tôi liền nhảy chân sáo đến bể chứa nước mưa mát lịm, múc một gáo dừa, vã lên mặt, rửa chân tay cho sảng khoái. Khi tôi bước vào nhà chào bà, chào bác, cũng là lúc bác tôi tiến đến bên hè, gỡ chiếc quang treo nho nhỏ xuống, múc cho tôi một bát chè khoai lẫn đỗ từ chiếc nồi đặt trong quang, rồi lại cẩn thận treo lên.
Bà ngoại đã già, nhưng không lúc nào ngơi tay, vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa thái rau lợn, quét sân, rê thóc, đun cám... Có khi tôi vác bát ra, vừa ăn chè vừa xem bà làm việc, trò chuyện với bà. Cũng có khi bà đi cuốc đất sau vườn, chỉ còn mình tôi và con chó xù già. Yên tĩnh đến mức thi thoảng ngoài tiếng trâu nghé ngọ trong chuồng, tiếng nước oàm oạp dâng lên, tiếng gà mổ nhau thì chỉ còn tiếng nhai của tôi. Có lẽ vì thế mà món chè khoai ngọt đượm thấm vào vị giác, thấm cả vào trí nhớ của tôi nữa.
Món chè ngon bởi tất cả những gì làm nên nó. Đỗ đen được trồng ở đất bãi sông Hồng, giữa bao la đất trời, ra hoa đậu quả trong tiếng sóng vỗ và gió hát. Đỗ trảy vào tháng Tư, qua nắng đầu mùa, chỉ cần ninh một chút bằng rơm mới là bở tơi. Khoai lang cũng là khoai đất bãi, vùi mình trong trầm tích phù sa ngàn năm của con sông mẹ. Nhưng không thể không “kể công” thứ kết nối khoai và đỗ với nhau, chính là mật mía.
Những cây mía trồng trên đất bãi cao nghều, vỏ xanh mướt và cứng nhưng ngọt sắc. Vào mùa thu hoạch, từng ôm mía được chở bằng thuyền, được chất lên xe bò, đưa về sân kho. Những con trâu béo mập khỏe mạnh kéo miệt mài ép mía chảy thành nước. Nước mía được đổ vào những chiếc nồi đồng đun nhiều giờ thành mật mía đỏ nâu sánh mịn rồi cô lại thành những tảng đường phên to đùng, chắc nịch, bọc trong lá chuối khô, buộc bằng những sợi rơm nếp. Ở quê tôi, nhà nào cũng có vài tảng đường như thế trên gác bếp, để dành ăn quanh năm.
Mỗi lần nấu chè, bác tôi phải mang con dao rựa ra chặt lấy từng miếng đường nhỏ để cho vào nồi. Có khi tôi còn xin bác một miếng để ăn cho đỡ thèm. Vị đường mía ăn riêng đã ngon nhưng khi bỏ vào nấu chè khoai, chao ôi, chẳng còn gì ngon hơn thế. Hạt đỗ bở tơi. Miếng khoai dẻo quện với vị mật mía thanh thanh, nhang nhác vị gừng. Nước mưa ngậm no chất của đỗ đen, khoai lang, mật mía tiết ra, ngọt đượm đến tận ruột, thấm đến tận tim gan.
Nhiều năm sau này, tôi cũng thử nấu chè khoai như bác tôi từng nấu mà không thấy ngon như ngày xưa. Bởi thế, hương vị ấu thơ vẫn mãi là hương vị ký ức mà ta có đi tìm cả đời cũng không thấy lại được.
Mùa nước lên năm nay, tôi trở lại ngôi nhà bà ngoại xưa để cúng 50 ngày bác. Bể nước, hàng cau với hàng mộc già cũng không còn nữa. Đứng bên sân, nhìn vào đầu hè, tôi như nhìn thấy vóc dáng bác nhỏ bé, đưa tay nhấc chiếc quang tre để lấy xuống nồi chè khoai. Bất giác, tôi như muốn đưa tay ra đón bát chè thơm ngọt năm nào.

