Xưa và nay

Lối đi nào cho làng cổ Cự Đà?

Đỗ Phong 08/08/2026 - 06:40

Nằm soi bóng bên dòng Nhuệ giang, làng cổ Cự Đà (nay thuộc xã Bình Minh, thành phố Hà Nội) từng nổi tiếng trù phú nhờ “cận thị, cận giang”... Tuy nhiên, trước tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, ngôi làng cổ này đang đối mặt với nguy cơ bị mai một những giá trị lịch sử và kiến trúc độc đáo. Vì vậy, việc bảo tồn và tìm lối đi cho Cự Đà - di sản ven đô đang là bài toán cần lời giải từ nhiều phía...

cu-da.jpg
Một góc làng cổ Cự Đà (xã Bình Minh). Ảnh: Vân Chi

Nốt nhạc giao thoa Đông - Tây độc đáo

Trong tâm thức của những bậc cao niên ở Cự Đà, vùng đất này chưa bao giờ là ngôi làng thuần nông. Người xưa có câu “Nhất cận thị, nhị cận giang” để chỉ những thế đất dễ phát tích, phát triển...; làng Cự Đà trước đây chính là hình mẫu sinh động cho câu ấy. Ngay từ thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khi mạng lưới đường bộ chưa phát triển, sông Nhuệ chính là tuyến giao thương huyết mạch, kết nối toàn bộ vùng phía Nam Hà Nội với các tỉnh lân cận. Sông Nhuệ ngày ấy dòng nước trong xanh, tấp nập thuyền bè ngược xuôi chở hàng hóa, sản vật ra vào kinh kỳ.

Người già trong làng kể rằng, thuở xa xưa, các hoàng thân trong gia tộc chúa Trịnh từng chọn vùng đất này để lập ấp, dựng nhà. Đến thời Pháp thuộc, hình thành lớp kiến trúc mới với cửa cao, ban công sắt uốn và tường vữa sáng màu, đan cài giữa những nếp nhà ba gian, năm gian truyền thống. Bởi vậy, làng Cự Đà mang vẻ đẹp không giống bất kỳ làng cổ nào ở Bắc Bộ, vừa cổ kính, vừa sang trọng, lại phảng phất nét lãng mạn.

Theo lời kể của ông Vũ Văn Thân (87 tuổi) và tài liệu khảo cứu lịch sử cùng gia phả các dòng họ lớn chứng minh, làng Cự Đà đã hình thành từ bốn thế kỷ trước do các hoàng thân trong gia tộc chúa Trịnh khởi lập. Trí thông minh và sự nhạy bén với thời cuộc của người dân nơi đây đã biến vùng đất ven sông Nhuệ thành bến cảng sầm uất.

Sự phồn thịnh về kinh tế đã mang lại cho làng Cự Đà một diện mạo kiến trúc có một không hai, khi nơi đây thành “bảo tàng sống” về kiến trúc làng nghề ven đô. Toàn bộ ngôi làng được quy hoạch đồng bộ theo mô hình xương cá rất khoa học. Lấy con đường trục chính chạy dọc sông Nhuệ làm xương sống, làng tỏa ra hàng chục con ngõ nhỏ uốn lượn dẫn vào các xóm. Mặt đường làng, đường ngõ được lát gạch chỉ đỏ đặt nghiêng, tạo nên những lối đi bền bỉ với thời gian mang sắc trầm mặc, ấm áp. Điểm độc đáo làm nên thương hiệu kiến trúc ở Cự Đà chính là sự giao thoa giữa hai trường phái Pháp cổ điển và Việt cổ truyền. Thời vàng son, làng có hàng trăm ngôi nhà mang lối kiến trúc pha trộn này.

Theo Chủ tịch UBND xã Bình Minh Nguyễn Đăng Việt, đến nay, dù thời gian tàn phá, Cự Đà vẫn còn lưu giữ được khoảng 50 ngôi nhà cổ mang lối kiến trúc độc lạ. Đó là những ngôi nhà cấu trúc hai tầng, ban công thanh thoát, cửa sổ chớp lật mang phong cách phương Tây; phần mái hiên cong vút như mái đình làng Việt. Chính sự pha trộn này tạo nên lối kiến trúc hài hòa, sang trọng mà không ngôi làng cổ nào trên đất nước Việt Nam có được.

Song song với những nếp nhà “tây - ta” hòa hợp là không gian văn hóa tâm linh thâm nghiêm, vững chãi: Đó là đình làng Cự Đà 5 gian được xây dựng theo kiểu chồng rường, kẻ bảy, trên các xà nách chạm trổ hình rồng, hoa lá tinh tế, là nơi thờ Thành hoàng làng - vị quan võ thời Đinh có công tuyển chọn binh lính dẹp loạn 12 sứ quân; đó còn là Linh Minh tự (chùa Cự Đà) có niên đại hơn 300 năm - danh lam cổ tự đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 2000.

Đặc biệt, dọc đường làng còn hai trụ đá cao khoảng 1m, bốn mặt khắc văn tự chữ Nho cổ, trên đỉnh là đôi cóc đá tọa lạc. Các cụ cao niên trong làng Cự Đà kể lại, chỗ lõm trên lưng cóc đá to bằng cái đĩa đựng trầu chính là nơi thắp đèn dầu của nhà tư sản Trịnh Văn Cối (tức cụ Hai Tiêu) - người từng sở hữu 600 mẫu ruộng bộ. Thời ấy, ngọn đèn dầu trên lưng cóc được thắp sáng rực, vừa gọi các thuyền đong thóc cập bến, vừa đóng vai trò như ngọn hải đăng chỉ lối cho thuyền bè qua lại trên sông Nhuệ trong đêm... Tất cả những di sản ấy tạo nên nốt nhạc hoài niệm thâm trầm, sâu lắng, minh chứng cho thời kỳ hưng thịnh của vùng đất phát về học vấn khoa cử tồn tại song song với buôn bán tấp nập...

Cần quy hoạch khoa học để bảo tồn bản sắc văn hóa

Làng cổ Cự Đà hiện thuộc xã Bình Minh, nằm ở vị trí phát triển chiến lược hướng Tây và Tây Nam của Thủ đô Hà Nội. Cự Đà giờ đây không còn là ngôi làng ven đô hẻo lánh mà bị ảnh hưởng trực tiếp của làn sóng đô thị hóa. Những con đường cao tốc, những khu đô thị mới hiện đại bao quanh không gian kiến trúc cổ xưa, khiến Cự Đà đứng trước bài toán nan giải: Đổi thay để hòa nhập hay hồi sinh không gian văn hóa di sản? Dọc các con ngõ như Đồng Nhân Cát, ngõ Chùa... người làng không khỏi xót xa khi cấu trúc xương cá như dần bị bẻ gãy; những cánh cổng xóm bằng gỗ xưa kia được khóa chặt sau 21 giờ đêm để bảo vệ an ninh cho dân làng nay chỉ còn lác đác; sự trầm lắng, cổ kính của những bức tường gạch rêu phong đang thay thế bởi sơn tường hiện đại... Mọi đổi thay diễn ra âm thầm nhưng theo chiều hướng không thể đảo ngược. Và điều khiến nhiều người day dứt là câu hỏi: Nếu không bảo tồn ngay, liệu còn một Cự Đà cổ cho mai sau?

tuong.jpg
Sản xuất tương tại làng cổ Cự Đà (xã Bình Minh). Ảnh: Kim Giang

Không riêng kiến trúc, các nghề truyền thống mang tính linh hồn của Cự Đà cũng đang chật vật để tồn tại “Tương Cự Đà, cà làng Đám” lừng lẫy, được làm từ nếp cái hoa vàng, đậu tương, nước mưa ủ trong chum sành lớn... nay chỉ còn rất ít hộ gia đình cố gắng gìn giữ. Hình ảnh những khoảng sân nhà cổ xếp hàng chục chum tương cỡ 50 lít sóng sánh, nồng đượm nay dần thưa thớt...

Với nghề làm miến, chẳng ai còn nhớ nghề này có từ khi nào, chỉ biết rằng nó đã nuôi sống bao thế hệ người dân nơi đây. Những mẻ miến làm từ củ dong riềng khi phơi lên sẽ có màu vàng óng tự nhiên, dai, thơm, đặc biệt không nát khi nấu. Miến Cự Đà vì thế mà nổi tiếng khắp Hà Nội và lan rộng nhiều vùng miền khác. Dẫu vậy, nghề miến cũng đang chịu nhiều áp lực. Nhu cầu thị trường thay đổi; quy trình sản xuất phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; nhiều hộ phải thuê mặt bằng rộng để đáp ứng sản lượng mùa Tết... Mọi thứ đều khiến Cự Đà phải xoay mình - chính điều này có thể ảnh hưởng đến cảnh quan làng cổ...

Trước thực trạng ấy, theo một số chuyên gia văn hóa, định hướng phát triển khu vực phía Tây Thủ đô vừa là thách thức nhưng cũng khá thuận lợi nếu Cự Đà được quy hoạch hợp lý. Cách trung tâm Hà Nội chỉ 20km, giao thông kết nối ngày càng hoàn thiện, Cự Đà sở hữu tiềm năng lớn phát triển du lịch văn hóa - sinh thái - làng nghề. Nhu cầu của người dân đô thị muốn tìm về một chốn bình yên, dạo quanh những nếp nhà cổ hay tìm hiểu quy trình làm nghề truyền thống... là rất lớn.

Hơn nữa, với người dân Cự Đà hôm nay, họ không hề khước từ hiện đại mà mong muốn trong dòng chảy văn hóa Thủ đô, làng luôn duy trì được bản sắc. Theo đó, Cự Đà đang cần chiến lược tái thiết, quy hoạch khoa học với phân khu rõ rệt: Khu vực lõi di sản cần được bảo vệ nghiêm ngặt, nguyên trạng. Khu vực làm nghề cần quy hoạch riêng, thuận lợi cho mở rộng quy mô kinh tế, bảo vệ môi trường... Khi đó, làng cổ Cự Đà sẽ trở thành nguồn lực quý giá đóng góp vào sự phát triển chung của Thủ đô, đất nước...

(0) Bình luận
Đừng bỏ lỡ
Lối đi nào cho làng cổ Cự Đà?