Dốc đời
Gió lồng lộng thổi tung đụn lá khô bay lên cao rồi day dí xuống mặt đất xoay vòng vòng. Tôi đi trên con đường từ trại dưỡng lão tới nghĩa trang, tọa lạc trên khoảng đất rộng cạnh sườn đồi thoai thoải. Từ cổng trại bước vào, tràn ngập màu xanh của những tán cây bóng mát được cắt tỉa kỹ càng.

Tôi gần 80 tuổi, vào trại dưỡng lão này đã ngót nghét 2 năm. Thời gian chưa dài nhưng cũng đủ để nếm mùi đớn đau, sinh ly, tử biệt.
Ngày xưa ở quê, tôi vừa đi bộ đội về thì thầy bu ướm gả cho cô Tám ở xóm Hạ. Thấy cô hiền lành nên tôi cũng gật đầu để thầy bu xin cưới, dù chưa một ngày yêu nhau. Lần đầu tiên nằm cùng người con gái lạ trên chiếc giường trải chiếu hoa, tôi vừa ngại ngần vừa rạo rực. Cái ôm hôn đầu đời đầy đê mê hạnh phúc. Vậy mà cũng gắn bó mấy chục năm, đủ nghĩa đủ tình. Thời bấy giờ người ta sống như thế, an phận đến nỗi nhầm tưởng đó là bình yên.
Vợ chồng tôi làm ruộng, lúc nông nhàn lại làm bánh cuốn, chở đi bán khắp huyện trên xã dưới. Ba đứa con trai Quyển, Sổ, Sách lần lượt ra đời. Lớn lên, chúng đi học rồi làm việc trên thành phố, ở luôn trên đấy. Bao năm vất vả nuôi con ăn học, cứ tưởng về già an nhàn, được chăm sóc nhau thì vợ tôi đổ bệnh ung thư phổi. Những cơn ho ngày đêm không dứt. Ông Bản hàng xóm sang chơi, bảo: “Ai cũng thế, cứ đến lúc sướng là chết. Còn khổ là còn sống. Như tôi đây muốn chết mà ông giời chẳng cho chết”.
Ông Bản không vợ không con, vết chân chim chằng chịt, nhăn nhúm trên khuôn mặt già nua, khốn khổ. Nhưng ông chẳng ốm đau gì, cứ một mình vui buồn với cái quán tạp hóa con con. Quán lúc nào cũng sẵn rượu, ông uống say rồi làm thơ con cóc tự ngân nga một mình: “Ai mà đo được buổi chiều/ Muốn say mà tỉnh liêu xiêu lối về”...
Có lần ngồi uống rượu với ông Bản, tôi hỏi:
- Sao ông không chịu lấy vợ?
- Chắc kiếp trước tôi là hòn đá nên chẳng có duyên với ai. Thế cũng
nhẹ lòng...
Hồi nhỏ ông Bản sống trong những trận đòn roi của mẹ kế, cả xóm Hạ này ai cũng biết. Từ bé tôi đã ấn tượng với người đàn bà có ánh mắt lúc nào cũng hừng hực sân si, sẵn sàng cãi cọ với hàng xóm hay cả với anh em, họ hàng ấy. Khi bà già yếu, những người con ruột của bà, cùng cha khác mẹ với ông Bản, viện cớ bận rộn. Chỉ có ông Bản khác máu tanh lòng lại là người ở bên chăm nom, rồi vuốt mắt cho mẹ kế khi bà chết.
Vợ tôi ốm hơn hai tháng thì mất. Đám đàn ông con trai trong nhà chỉ sụt sùi, ba đứa con dâu lặng lẽ đi bên xe tang thi thoảng đưa vạt áo xô lên lau nước mắt. Vợ tôi vốn hiền lành nhưng ít nói. Bà ấy như mảnh đất trên đồng, mưa nắng thế nào cũng cam chịu, chắt chiu dưỡng chất cho hạt mầm nảy cây. Lúc mất người bà ấy còn ấm, người ta bảo nếu thân thể khi chết mà còn ấm thì sẽ được lên thiên đàng. Tôi cũng tin như vậy.
***
Sau khi vợ mất, tôi lên thành phố ở với vợ chồng thằng Quyển. Tưởng được vui vầy, ai ngờ vợ chồng nó đi làm từ sáng tới tối. Tôi xem ti vi chán lại ra góc hiên ngồi đếm lá rụng. Mong tới chiều để được nói chuyện với hai đứa cháu thì chúng còn bận học thêm, hôm nào không phải đi học thì chúng ở tịt trong phòng chơi điện tử. Tôi cũng không nỡ làm phiền.
Tôi dần như cái bóng trong nhà, thằng Sổ đến thăm thấy vậy bèn xin phép anh cả đón tôi sang nhà nó ở. Nhà nó nhỏ hơn, lại gần nhà máy thức ăn chăn nuôi nên lúc nào cũng nồng nã thứ mùi đặc trưng. Lại thêm xưởng mộc bên cạnh, tiếng xẻ gỗ như cào như cấu ám ảnh cả giấc ngủ. Thấy tôi phờ phạc, thằng Sổ bảo: “Hay bố sang nhà chú Sách? Chú ấy ở ngoại ô yên tĩnh, không khí trong lành”.
Thằng Sách đón tôi về nhà. Những ngày cuối tuần mấy đứa cháu ríu rít vây quanh ông nội. Tôi thấy vui hơn. Thằng Sách mua cho tôi một con chim chào mào nhốt trong chiếc lồng sắt treo trên ban công. Nó bảo: “Bố nghe tiếng hót mỗi ngày sẽ thấy vui”. Tôi chẳng vui, chỉ thấy một con chim tù túng với đôi cánh bay trong không gian chưa đầy ba tấc vuông. Vậy mà nó phải cất tiếng hót để mua vui cho con người, để ngày ngày không phải đi kiếm mồi mà bình yên trong chiếc lồng chật chội.
Một ngày, tôi thả con chim đi, nó lượn quanh tôi mấy vòng rồi bay vút lên nền trời xanh thẳm. Chiếc lồng trống nhưng để lại trong tôi cảm giác dễ chịu và hạnh phúc.
Ở nhà thằng Sách được vài tháng thì tôi bị gãy chân, do không may trượt ngã trong nhà tắm. Vợ chồng thằng Sách thay phiên nhau nghỉ việc ở nhà chăm sóc bố. Tôi nhận ra sắc mặt không vui của vợ nó, lại nghe nó dấm dẳn với chồng: “Anh cả, anh hai đổ hết lên đầu vợ chồng mình. Chả biết ý tứ gì?”.
Tôi nghe mà lòng buồn rười rượi. Vợ chồng nó nói cũng chẳng sai. Tôi bây giờ đúng là chỉ như cục nợ, chẳng giúp gì được cho chúng. Cảm giác vô dụng khiến tôi tự dằn vặt. Tôi ráng đợi chân lành lại rồi nói chuyện với tất cả mấy đứa con trai, con dâu: “Bố thấy các con cũng bận rộn, ở đây lại không có bạn bè, các con cho bố về quê”.
Các con đều chiều theo ý tôi.
Căn nhà đã lâu không có người ở đầy rêu phong, ẩm mốc. Hàng xóm kể ông Bản không ốm đau gì, tự nhiên sau một đêm ngủ không thức dậy nữa. Họ bảo "ông ấy chết tiên". Tôi nghe mà cũng muốn được “chết tiên” như ông ấy.
Nhưng ở đời có phải cứ muốn chết là chết được ngay đâu. Như ông ấy nói, còn khổ là còn phải sống.
Mấy đứa con trai không yên tâm để tôi một mình trong căn nhà trống trải. Chúng bàn bạc rồi nói với tôi: “Chúng con nghĩ bố nên vào trại dưỡng lão, bố đồng ý không? Ở đó bố sẽ có bạn bè cùng trang lứa, được nhân viên chăm sóc tận tình, cuối tuần con cháu vào thăm”.
Tôi nghe mà thoáng buồn, nhớ lại ngày xưa, trong bữa cơm gia đình đầm ấm, ba đứa trẻ tranh nhau nhận nuôi bố mẹ khi về già. Giờ thì... Tôi nén tiếng thở dài, âu cũng là cái nợ đồng lần. Thế là tôi khăn gói vào trại dưỡng lão.
***
Đúng như các con nói, ở trong trại dưỡng lão tôi được chăm sóc sức khỏe, ăn ngủ điều độ, lại được trò chuyện với những người bạn cùng trang lứa, nhờ thế tâm trạng phấn chấn hơn. Mỗi người một hoàn cảnh, tâm sự cùng nhau, có vui, có buồn. Nhưng cuối tuần ai cũng ngóng ra cổng, mong thấy bóng dáng con cháu tới thăm.
Trong số những người ở trại tôi ấn tượng với một phụ nữ tên Loan. Loan kém tôi vài tuổi, nhưng trong tâm trí tôi bà ấy còn trẻ lắm, lại dịu dàng nên tôi thường xưng “tôi” và gọi bà bằng tên. Loan nói năng nhỏ nhẹ, sống có phần khép kín. Thấy Loan không có ai tới thăm, tôi hỏi thì Loan bảo: “Chồng tôi mất ở Quảng Trị năm 1972, vợ chồng mới ở với nhau bảy ngày, chưa kịp có mụn con nào”.
Tôi thán phục sức chịu đựng của Loan. Loan độc thân cả cuộc đời vì điều gì, dù sao người mất thì đã mất rồi, Loan có thể bắt đầu một cuộc đời khác hạnh phúc hơn từ khi còn trẻ. Sẽ không ai trách móc, hoặc nếu có thì họ cũng sẽ dần quên theo thời gian... Thấy tôi thắc mắc, Loan bảo: “Đã thề sẽ chung thủy thì phải giữ lời thề chứ. Con gái chúng tôi thời ấy biết bao người cũng giữ trọn lời thề”. Một khoảng im lặng len vào sau lời Loan, tôi nghe rõ cả tiếng thở dài nhè nhẹ.
Tôi nói chuyện với Loan mỗi ngày, những chuyện vô thưởng vô phạt cứ cuốn vào nhau. Hôm nào không gặp lại nao nao nhớ. Không ngờ ở cái tuổi này rồi mà lần đầu tiên tôi mới biết rung động, yêu thương.
Loan nói chuyện với tôi nhiều hơn, hình như bà ấy cũng thích tôi. Có lần chúng tôi cùng ngồi ghế đá, tôi run run đặt tay mình lên tay Loan. Loan yên lặng. Tôi nắm tay Loan thật chặt, như thể không bao giờ muốn tuột mất. Loan khẽ bảo:
- Giá mà chúng ta gặp nhau thời son trẻ, tôi chưa lấy chồng và ông chưa thuộc về ai.
- Ừ! Chắc kiếp trước chúng ta chưa tròn quả tu, nên kiếp sau tôi sẽ tìm bằng được Loan để hỏi làm vợ.
Loan vui lắm, tôi cũng vui. Chúng tôi kể cho nhau về quá khứ. Đoạn đường ấy chúng tôi không có mặt trong câu chuyện của nhau, nhưng hạnh phúc cứ rỉ rả ngân lên từ hai trái tim đập chung một nhịp. Chưa bao giờ tôi thấy yêu đời như vậy, luôn nghĩ về Loan rồi tủm tỉm cười một mình.
***
Hạnh phúc chưa được bao lâu thì Loan bị tai biến, chìm vào hôn mê sâu, được vài hôm thì mất. Tôi như mất đi một nửa linh hồn.
Mộ của Loan nằm ở nghĩa trang ngay cạnh trại dưỡng lão. Khu nghĩa trang dành cho những người già độc thân, không con cái, có nguyện vọng được an nghỉ tại nơi này.
Tôi ra mộ mỗi buổi chiều, trò chuyện như hồi Loan còn sống. Tôi cũng chẳng còn trách con cháu khi chúng bận rộn không đến thăm. Vì tôi đã hiểu và thấy yêu thương chúng nhiều hơn. Vì tôi cũng chẳng còn nhiều thời gian để giận hờn, trách móc ai nữa.
Lạ thay, khi trong tim tôi chất chứa sự cảm thông và tha thứ, thì như có thần giao cách cảm, con cháu lại vào thăm tôi thường xuyên hơn. Chúng ngỏ ý đón tôi về, hứa chăm sóc thật tốt, không để tôi phải phiền lòng nữa. Các con nghĩ được như thế, tôi cũng thấy vui.
Hôm các con đến đón về nhà, tôi lại tới bên mộ Loan, ngồi ngẫm nghĩ về những cuộc đời ở phía bên kia con dốc. Tôi hỏi Loan: “Ở nơi đó Loan có hạnh phúc không?”.
Nghĩa trang vẫn lặng lẽ, chỉ có cơn gió mùa hè xào xạc, mơn man trên mái tóc bạc của tôi.

