Vỉa hè tháng Tư
Sau những ngày nồm ẩm, nắng xuống phố hanh hao, đủ cho người ta thấy lòng mình thoáng đãng. Lá sấu rụng đầy vỉa hè dưới nắng tháng Tư ánh lên như nắng, dát lớp ánh sáng dìu dịu dọc hai bên đường.
Quán trà của ông Lâm nép dưới gốc sấu cổ thụ đã hơn hai mươi năm. Dăm ba ấm trà, chục cái ghế gỗ thấp, thêm thùng nước đá và bàn gỗ có hộc mở ra thành ngăn tủ nhỏ, vậy mà thành góc quen của bao người. Chủ quán ít nói, nhưng ai hỏi cũng cười. Người trẻ quen gọi ông là “bố Lâm” và vẫn xôn xao: “Không có quán bố, phố mất cả vui!”. Nhưng sáng nay, vỉa hè bỗng trống trơn. Bàn ghế và mọi thứ xếp gọn. Ông Lâm ngồi ở bậc cửa, tay nâng chén trà, mắt xoáy vào khoảng không phía trước.

“Ông mệt trong người hay sao giờ này chưa dọn quán?”, khách quen dừng xe hỏi. Ông lắc đầu, giọng đều đều: “Dẹp rồi! Phường nhắc và mình phải chấp hành”. Hàng xóm nghe chuyện, ghé sang, ngập ngừng: “Nhưng quán mình có lấn ra nhiều đâu, đáng gì...”. Ông Lâm vẫn mỉm cười đáp khẽ: “Một chút của mình, một chút của người khác, cộng lại thành nhiều”. Sau câu nói là không gian im lặng. Dường như ai cũng có điều tránh né. Thực ra, chuyện dẹp vỉa hè vốn được nhắc từ mấy tuần trước. Cả dãy phố xôn xao, người tiếc, người lo, người bàn cách “né”, lại cũng có nhà tính chuyện chuyển đi. Nhưng tối hôm trước, chính ông Lâm đi gõ cửa từng nhà. Ông ôn tồn cắt nghĩa đầu cuối: “Chúng ta làm đúng đi, cho con cháu còn nhìn”. Cả phố nể ông bởi ông là người từng đi qua chiến tranh, qua bao giai đoạn khó khăn của đời sống mà vẫn mực thước, ấm nồng. Người như thế mà còn tự nguyện dẹp quán thì những người khác khó mà làm khác.
***
Quán trà ông Lâm khởi sự từ một ban trưa cách đây mấy mươi năm, khi ông còn chưa quen với nhịp sống sau ngày trở về. Ban đầu chỉ là một ấm trà đặt tạm ngoài cửa, mời người quen. Rồi người này rủ người kia, thành ra đông dần. Những năm tháng ấy, vỉa hè Hà Nội khác bây giờ nhiều. Xe cộ thưa vắng, người thong thả hơn. Người ta có thể ngồi hàng giờ bên chén trà, rủ rỉ chuyện đời, chuyện nghề. Thỉnh thoảng, giữa câu chuyện của khách, ông buông một đôi câu và người nghe đều hiểu đó là tình cảm, trải nghiệm của người lính từng đóng quân đâu đó rất xa, rất khốc liệt. Rồi ông mủm mỉm cười, rót thêm nước. Quán không biển hiệu, không bảng giá nhưng ai cũng thuộc làu làu. Người đi xa lâu ngày về lại phố việc đầu tiên là ghé qua: “Bố Lâm mùa này đã ngâm mơ, ngâm sấu chưa ạ, phần con hai lọ nhỏ mang đi nhé?”. Ông luôn ở đó, tận tụy như một phần của phố.
Giờ thì vỉa hè phải thông thoáng, trả lại cho người đi bộ. Ban đầu, nhiều người phản đối. “Không hàng quán thì sống bằng gì?” - bà bán bánh mì giọng lanh lảnh. “Dẹp hết thì nói làm gì, phải có giải pháp linh hoạt chứ!” - ông xe ôm lắc đầu ngán ngẩm. Ông Lâm ngồi nghe từ đầu đến cuối, lúc mọi người quay sang hỏi, ông mới chậm rãi: “Ngày trước, để có cái vỉa hè yên bình mà ngồi, nhiều người đã không trở về. Giữ cho gọn gàng, thoáng đãng cũng là sự biết ơn, là điều nên làm”. Cách nói ấy không phải ai cũng hiểu nhưng nghe thì lòng ai cũng chùng xuống. Nói là làm, ông tự dọn quán trước. Xếp từng cái ghế, lau sạch ấm chén, thu vén thói quen lâu năm. Vợ ông đứng nhìn, thở dài cái thượt: “Ông lúc nào cũng thế, cứ việc khó là nhận về mình”. Ông vừa luôn tay vừa đáp: “Không ai làm trước thì khó lắm”.
Những ngày đầu không quán hàng, ông Lâm thấy thiếu thiếu. Lời lãi chẳng bao nhiêu, cái thiếu là thiếu tiếng người. Không còn nghe khách í ới, không tiếng ấm chén, ly tách chạm nhau. Ông vẫn pha trà trong nhà. Hàng xóm và khách quen thi thoảng ghé vào. Không gian chật chội hơn nhưng câu chuyện thì vẫn vậy. Mấy cậu sinh viên gửi xe gần đó, đi bộ vào ngõ thăm “bố Lâm”, mang theo mấy câu chuyện bâng quơ ở trường. Ông xe ôm cũng vào, ngồi quạt bằng cái mũ. Mấy người lao động mang theo bánh mì, vừa ăn vừa thỏa hiệp: “Ngồi trong này cũng được, đỡ bụi”. Mọi thứ thay đổi trong sự dịch chuyển.
***
Buổi chiều, trẻ con khu phố chạy nhảy thênh thang vỉa hè, ông Lâm nhìn ngắm mãi. Ông không phủ nhận rằng mình đang rất nhớ cái vỉa hè cũ. Nhớ những buổi đông khách, tiếng cười nói rộn ràng. Nhưng ông cũng thấy rõ phố đang đổi thay theo cách cần thiết. Hôm tổ dân phố họp, chủ đề vẫn là giữ gìn trật tự vỉa hè, ông được mời phát biểu. Giọng ông đầy tâm tư: “Tôi bán nước ở đây hơn hai mươi năm. Dẹp đi, cũng tiếc. Cơ mà mình sống ở phố, phải nghĩ cho phố, gọn gàng một chút, người khác được nhờ. Thế hệ chúng tôi từng đi qua những ngày không có gì, nên hiểu giá trị hôm nay quý đến thế nào”.
Ít ai biết, năm nào cũng đúng quãng cuối tháng Ba, ông lại chuẩn bị cho một chuyến đi xa, vào Tây Nguyên. Vợ ông vốn quen rồi, dù năm nào cũng “càm ràm”: “Tuổi này còn đi rừng đi rú làm gì cho khổ cái thân!”. Ông trấn an: “Vẫn còn người chưa về mà...”. Trong góc tủ, ông lưu nhiều hồ sơ, bản đồ, ghi chép, tọa độ... Thỉnh thoảng, có mấy người trẻ ở nhóm tình nguyện đi tìm hài cốt liệt sĩ đến, mang theo laptop, thiết bị định vị. Họ cũng gọi ông là “bố”, kính trọng và gần gũi. Cả nhóm ngồi bàn về những con số, vị trí trên những dãy núi xa xôi. Rằng ở những đỉnh núi ở Sa Thầy trong Tây Nguyên, có bao người lính đã nằm lại, có những gia đình vẫn chờ đợi. Những người lính may mắn được trở về như ông, dù đã mắt mờ chân chậm, vẫn không thể nguôi quên.
***
Tháng Tư, phố treo cờ, vỉa hè gọn gàng như khoác lên mình một diện mạo mới. Nhóm sinh viên đến sớm hơn thường lệ, mang theo bó hoa đặt lên bàn. “Hôm nay đặc biệt mà bố!”. Ông Lâm ngắm hoa, rồi nhìn ra vỉa hè. Ánh nắng trải dài, long lanh xuyên qua lá. Ông chợt nhớ đến buổi sáng rất xa, khi mọi người nói về ngày hòa bình. Hồi đó, tâm trí ông ăm ắp nỗi rưng rưng, lâng lâng mà mông lung. Không thể cảm thấy nhẹ nhõm dù mình còn sống. Dần dà, ông hiểu thêm, hòa bình không hẳn chỉ là hết chiến tranh mà còn từ những điều giản dị như một vỉa hè thênh thang và con người có cùng tâm tư, trăn trở.
Khách đến quán trà trong nhà ông đông hơn thường lệ. Khách ngồi trong nhà, tràn ra cả bậc cửa. Ai đó nói đùa: “Quán dẹp mà đông không tưởng!”. Vợ ông cũng xăm xắn phụ chồng pha trà, rót nước, động viên khách: “Ngồi thế này thành ra đỡ bụi, đỡ ồn”. Mọi người gật gù. Câu chuyện xoay quanh đủ thứ, từ công việc, gia đình đến chuyện phố xá thay đổi. Không ai nhắc đến việc mất quán vỉa hè nữa. Dường như, tất cả đã chấp nhận, dần thấy ổn với điều đó.
Chiều muộn, khi khách thưa dần, ông mang ghế ra kê sát cửa. Không bày quán, ông vẫn thích ngồi ngắm phố. “Thấy không, vỉa hè rộng ra rồi”, ông chỉ cho cậu sinh viên. Cậu gật đầu: “Dạ, cũng hay bố nhỉ”. Ông cười: “Cái gì cũng có cái giá của nó”. Tối hôm đó, ông lại lôi ba lô ra, xếp đồ. Bà đứng nhìn, không còn phàn nàn nhiều như những lần trước, chỉ hỏi: “Mấy bác cháu định bao giờ về?”. Ông thủng thẳng đáp: “Chưa biết”. Bà quay đi chuẩn bị ít đồ ăn khô. Những chuyến đi đã thành quen mà cả người già lẫn người trẻ đều chưa thể nhẹ lòng. Ông biết, mỗi hành trình trở về chiến trường xưa là thêm lần đối mặt với ký ức không dễ chịu. Nhưng ông vẫn chọn lên đường. Lời hẹn của người lính, chỉ ai lên đường mới thấu hết.
***
Khi ông Lâm và nhóm tình nguyện còn băng rừng Tây Nguyên, góc phố nhỏ nơi quán nước cũ bỗng dưng thay đổi. Mấy cậu sinh viên kỹ thuật cùng tổ dân phố và các cán bộ trẻ đã khảo sát vị trí để dựng nên “Góc hòa bình”. Bàn ghế được kê gọn gàng, sát tường và vẫn giữ khoảng trống rộng rãi cho mọi người đi lại. Trên chiếc kệ gỗ thấp bày sách báo miễn phí từ thơ văn Hà Nội xưa đến các tuyển tập lịch sử, văn hóa, ai muốn ngồi đọc chỉ cần nhấc lên, cầm về bàn, rồi đặt lại sau khi dùng. Những trang sách thơm mùi giấy cũ mới hòa trong nắng tháng Tư lọt qua tán lá sấu gợi không gian vừa nghiêm trang vừa dễ chịu, thanh thản. Phía đối diện, nhiều bức tranh được sinh viên mỹ thuật cẩn thận treo trên bảng gỗ, nét vẽ phóng khoáng, màu sắc tươi tắn ghi lại ký ức người lính của một thời đạn bom. Ở một góc nhỏ, tấm bảng gỗ khắc tên từng liệt sĩ - đồng đội của ông Lâm, từng sống ở con phố này. Cạnh “Góc hòa bình”, trẻ con vẫn chạy nhảy, người lớn ngồi đọc sách, người già kể chuyện, hòa chung nhịp phố phường.
Cuối tháng Tư, phố xá rực rỡ cờ hoa, mọi người đứng chờ ông Lâm trở về. Chiếc xe chở ông rẽ vào ngõ, bụi đỏ Tây Nguyên vẫn còn vương trên ba lô. Ánh mắt ông dừng lại ở “Góc hòa bình”. Những bó hoa loa kèn trắng, lá sấu vàng rực rỡ, những bức tranh vẽ đồng đội ông đang mỉm cười. Ông lại rót trà, mời mọi người uống. Bé gái bên hàng xóm thấy ông về lon ton chạy sang, bi bô hỏi chuyện: “Ông ơi! Những người lính trong tranh... đi đâu rồi ạ?”. Ông cười thật hiền, cúi xuống, rưng rưng: “Họ vẫn ở đây, bên cạnh ông cháu ta và mọi người đấy thôi!”. Vỉa hè tháng Tư bình yên đến lạ, ngày càng nhiều chim sẻ ríu rít và sóc nâu tinh nghịch kéo nhau về.

